Thursday, September 10, 2009
Dự án Trung Tâm Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt
* Nguyễn Châu
Ngày 22 tháng 8, 2009, Lực Lượng Ðặc Nhiệm Dự Án Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt tại San José đã gửi thư mời tất cả cư dân thành phố đến để “chia sẻ quan điểm về tương lai của một trung tâm đa văn hóa mới mẻ này”.
Thư mời cho biết Thành Phố San José và Cơ quan Tái Phát Triển San Jose đã tuyển chọn một Lực Lượng Ðặc Nhiệm gồm 21 vị trong cộng đồng địa phương nhằm thu thập ý kiến để đưa vào dự án này.
Qua hồ sơ lưu trữ tại Văn Phòng Thư Ký Thành Phố, 21 thành viên của Lực Lượng Ðặc Nhiệm gồm những người sau đây: Liên Cao. James Dinh, Bryan Ðỗ, Ðắc Ðoàn, Dennis King, Thúy Lê, Hùng Lê Ðặng, Michelle Lew, Don Long, Cheny Nguyễn, Dinh Nguyễn, Hiếu Nguyễn, Thúy Nguyễn, Vương Nguyễn, Mỹ Linh Phạm, Tina Phạm, Martin Renteria, Lynne Tran, Quyền Vương, Clark Williams.
Nhìn vào danh sách Lực Lượng Ðặc Nhiệm, người ta thấy có đủ các sắc dân: người Hoa (như Michelle Lew, Don Long); người Mỹ và Mễ Tây Cơ (như Dennis King, Clark Williams, Martin Renteria), chứ không phải chỉ có người Mỹ gốc Việt mà thôi.
Sự kiện này cho thấy cái gọi là “Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt” trên thực tế không phải thuộc về hoặc dành riêng cho Cộng Ðồng Việt Nam sinh hoạt như nhiều đồng hương đã lầm tưởng khi nghe nói đến. Nó là một trung tâm đa văn hóa, nói trắng ra đó là một nơi mà tất cả mọi sắc dân, mọi tổ chức đều có thể sử dụng miễn là đóng lệ phí và tuân thủ nội quy của trung tâm.
Văn bản hành chính của Cơ Quan Tái Thiết Thành Phố San Jose đã ghi rõ “Mục tiêu của dự án VACC (tức Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt) là để tạo nên một trung tâm cộng đồng nhằm tôn vinh sự đa dạng, phát huy tình thân hữu và đem lại những dịch vụ cần thiết cho đời sống cho vùng này. Nhiều mục của các chương trình sẽ nhằm vào cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tuy nhiên Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt này có ý hướng phục vụ tất cả mọi cư dân trong thành phố” (The objective of the VACC project is to create a community center that celebrates diversity, fosters belonging, and brings vital services to this region. Many of the programs will focus on the Vietnamese American community, yet the VACC is intended to serve all residents of the region.)
Với sự khẳng định này, huyền thoại có một nghị viên đã vận động Hội Ðồng Thành phố cấp cho một ngân khoản 2 triệu 750 ngàn Mỹ kim để xây dựng cho cư dân gốc Việt một trung tâm sinh hoạt riêng đã bị phá vỡ. Những lời tuyên bố huênh hoang rằng đã tiếp nhận và đã giao cho người đứng đầu quỹ Vườn Truyền Thống vân vân đã hiện nguyên hình những lừa mị cử tri gốc Việt.
Ngay cả số tiền 2 triệu 750 ngàn đồng hương Việt Nam cũng bị hỏa mù. Bởi vì, số tiền ấy không phải tự nó có sẵn nguyên xi như vậy. Theo hồ sơ chi tiết công khai và minh bạch của Thành Phố San Jose, thì số tiền tổng cộng 2 triệu 750 dành cho dự án gọi là Xây DựngTrung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt do nhiều nguồn ngân sách gộp lại: Quỹ tiền thuế Xây Dưng và Chuyển khoản khu vực 7, cấp $1,000,000; Quỹ Xây Dựng Công Viên Toàn Thành pho cấp $150,000;Quỹ của Cơ quan Tái Thiết cấp $1,600,000. Ba nguồn cộng lại thành ra con số gần ba triệu ấy chứ không phải giống như vị dân cử tuyên bố là đã xin được một lần một.
Huyền thoại về một nghị viên xông xáo để lo cho cộng đồng người Việt tỵ nạn tại San Jose có một trung tâm sinh hoạt riêng đã tan vỡ.
Sự minh bạch hóa mọi vấn đề của Diễn Dàn Công Khai do Thành Phố chủ trương đã cho cử tri người Việt thấy rõ trắng đen, nhận ra mặt thật của kẻ đã lừa dối mà còn mưu toan nhập nhằng để lừa mị nữa.
Thật vậy, có lẽ đã đến lúc chính quyền Thành Phố quyết tâm minh bạch hóa tất cả mọi việc để lấy lại niềm tin của cư dân sau cơn ác mộng thứ Ba 20-11-2007.
Bằng chứng hùng hồn của sự minh bạch này đó là thành phố đã nói rõ rằng cái cơ sở cũ kỹ sau khi Trung Tâm Shirakawa dời qua nơi khác, bỏ trống, nếu mua để xây dựng “Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt” thì sẽ KHÔNG ÐƯỢC THÀNH PHỐ TÀI TRỢ TIỀN BẢO TRÌ HOẶC SINH HOẠT và số tiền $2.75 triệu là để tân trang mà thôi!
Có người đã đặt câu hỏi rất thiết thực: “Thành phố đã có thể tài trợ cho Mexican Heritage Plaza của cộng đồng người Mễ Tây Cơ, tại sao lại từ khước tài trợ cho trung tâm của cộng đồng người Việt? Chưa có câu trả lời nào.
Ngoài ra, cử tri người Việt cũng nên biết là Hội Ðồng Thành Phố dường như đã có sự phân biệt đối xử với cộng đồng người Việt. Bằng chứng là số ngân khoản cấp cho cộng đồng Mễ xây dựng Trung Tâm Truyền Thống là $33 triệu và ngân khoản hỗ trợ điều hành sinh hoạt tính đến tháng Tư, 2007 là $9 triệu… trong lúc đó, cộng đồng người Việt có dân số 10% bằng một phần ba số dân cộng đồng Mễ, mà chỉ được chưa đầy ba triệu, tính ra chưa bằng một phần mười ngân sách cấp cho cộng đồng Mễ mắc dù trong Hội Ðồng Thành Phố có một nghị viên gốc Việt!
Như vậy, thì rõ ràng là cộng đồng Việt Nam sẽ chẳng có bao nhiêu phần sinh hoạt ở cái gọi là Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt mà không phải dành cho người Việt ấy. Do đó, cử tri gốc Việt cần phải nhận định rõ ràng đâu là trắng đâu là đen, đâu là thực chất đâu là huyễn thoại để khỏi bị lừa gạt một lần nữa.
Cử tri người Việt cần phải đòi hỏi cho được sự minh bạch về tên gọi và chức năng của một trung tâm sinh hoạt. Không thể nào cứ nhập nhằng để đánh lận mãi.
Diễn Ðàn Công Luận đã được mở ra, lực lượng Ðặc Nhiệm đã được đổi mới, cử tri người Việt hãy mạnh dạn và từ tốn đến tham dự để nói lên ý kiến xây dựng của mình với Thành Phố San Jose.
Hãy nhìn vào tương lai với hy vọng là Lực Lượng Ðặc Nhiệm hiện nay số người có lương tâm hơn vượt trội những kẻ theo tà đạo, xu phụ kẻ gian xảo. Phải có mặt để nói lên tiếng nói và nguyện vọng của mình, nhất là để đòi hỏi chấm dứt sự Nhập nhằng giữa danh xưng và chức năng của cái gọi là Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt!
Ðồng hương có quyền nói. Hãy nói để đòi hỏi sự chính danh, bác bỏ sự lạm xưng với những mưu đồ cá nhân hoặc phe nhóm quyền lợi đàng sau danh xưng “Cộng đồng Người Mỹ Gốc Việt”.
Ðã đến lúc chính quyền thành phố nên minh bạch tất cả mọi vấn đề giống như lời tuyên hứa của chính phủ Liên Bang.
NGUYỄN CHÂU
>> Xem Tiếp!
Wednesday, September 9, 2009
Bao Giờ Dân Tộc Hết Trầm Luân?
Tuệ Vân
Tâm Thức Việt Nam
September 7, 2009
Trên báo chí Việt Nam hàng ngày người đọc chỉ thấy nổi bật những tin giết người, tham nhũng, lường gạt, ô nhiễm môi trường, bịnh tật, cảnh nghèo khổ của người dân lao động, cảnh thê lương của nông dân vì bị mất mùa, lãnh đạo tha hóa, chất độc vượt mức an toàn trong thức ăn rau quả nhập từ Trung Quốc, thuyền ngư dân bị tầu lạ đâm chìm, trẻ em bỏ học vì gia đình không có khả năng đáp ứng học phí cao, tin bắt giữ hay trấn áp các nhà dân chủ đấu tranh trong nước, vân vân. Mỗi ngày không biết bao nhiêu là tin tức tương tự như thế. Đọc để rồi mà thương cho người dân Việt Nam và lo buồn cho dân tộc, cứ như thế thì còn gì là đất nước.
Những sự việc trên tuy nhiên không phải tự nhiên mà có. Chúng đều đến từ hai lý do. Một là hậu quả của sách lược Cộng sản toàn trị ngu dân đã bắt đầu từ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên nửa miền Bắc, và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa trên cả nước, sau khi Việt Nam cộng hoà sụp đổ. Hai là sự cẩu hợp giữa Cộng sản biến thái tử khi Liên sô sụp đổ với chủ nghĩa tư bản toàn cầu.Thời toàn trị, chế độ chuyên chính vô sản do Hồ chí Minh thiết lập tại miền Bắc sử dụng giai cấp công nông làm nòng cốt trấn áp đã khống chế hoàn toàn các thành phần có chút hiểu biết. Chủ trương này đã khiến cho ngu dốt trở thành lợi thế tiến thân và trí thức im lặng để sống còn. Mặt khác, chính sách kinh tế tập trung ngăn sông cấm chợ để bần cùng hoá nhân dân, kiểm soát bao tử đã khiến người dân trở thành bạc nhược, buông suôi, chỉ mong làm sao sống được qua ngày, và cải thiện bằng những gian trá, mánh mung tiểu sảo. Một chút ân huệ từ đảng và nhà nước ban ra là đã reo vui, hả hê sung sướng. Nói khác đi, người dân được điều kiện hoá để ngỏng cổ, há miệng chờ nhà nước ban phát ân huệ. Những cán bộ bộ đội vào miền Nam sau 1975 đã an ủi giài thích cho người dân một cách tin tưởng và hãnh diện rằng “dân không phải lo, mọi sự có nhà nước lo” mà người nghe diễu cợt nhại lại với nhau thành “dân không phải no, có nhà nước no”. Nghĩa là chế độ cộng sản đã biến hầu như mọi người dân thành những con cừu ngoan ngoãn đi theo sự chăn dắt của đảng và nhà nước.
Hai là bản chất của người cộng sản Việt Nam là vô tổ quốc, chủ trương đấu tranh giai cấp để xây dựng thế giới đại đồng vô sản, thực hiện một thiên đường hạ giới. Mọi giá trị gia đình xã hội văn hoá Việt nam trở ngại cho mục tiêu này do đó bị xoá bỏ. Trong giai đoạn gọi là “quá độ” tiến lên thiên đường này thì con người phải hành xử như những cái máy theo lãnh đạo đảng, và nhu cầu thu gọn lại là vật chất và sinh lý. Khi cái thành trì Liên sô sụp đổ, Cộng sản Việt nam đổi mới, thì thiên đường đại đồng vô sản chuyển sang thế giới toàn cầu tư bản tiêu thụ, cá lớn nuốt cá bé, tập trung vào thoả mãn cá nhân trong một xã hội trơ trụi vì bị phá hủy bởi chuyên chính vô sản bóp nghẹt mọi giòng sinh hoạt.
Trong cái môi trường tư bản hoang dã mới du nhập này, con người với những nhu cầu bị dồn nén lâu ngày dưới chế độ toàn trị đã nhất tề xông lên, dẫm đạp lên nhau, tương tự như tình trạng chen lấn nhào vào mua hàng đại hạ giá ở Mỹ vì sợ hết hàng khiến có người chết. Hay là đúng thực tế hơn, với đa số, thì như hình ảnh của hội Gia Đình Lai Việt Mỹ mới đây cho thấy, đám đông người ban đêm tập trung chờ đợi những chiếc xe rác kềnh càng tiến vào bãi rác bụi mù, để tranh nhặt những gì có thể bán đi lấy tiền làm dịu những thôi thúc của cái bao tử lép xẹp. Những người không có sức để tranh sống như vậy, hay quá mệt mỏi vì tranh sống như vậy thì chỉ còn có một cách bịt mắt bưng tai hay là chọn con đường là trông về một cuộc sống đời sau, trở thành con mồi cho những cán bộ tôn giáo quốc doanh hay là những kẻ lưu manh hành nghề tôn giáo.
Và cuộc đời dân tộc đã trầm luân như thế, từ toàn trị giết nhau bằng căm thù giai cấp sang chà đạp lên nhau mà sống bằng thú tính tranh sống hoang sơ.
Làm sao thoát ra được tình trạng này? Khó khăn lắm mà cũng đơn giản lắm, tuỳ theo cách nhìn. Khó khăn là nghĩ rằng không thể nào thay đổi được hệ thống kìm kẹp độc tài Cộng sản biến thái hiện nay, để mà chọn một trong hai thái độ kể trên. Đơn giản là thấy rằng đời sau không biết thực sự thế nào mà chưa chắc đã có. Để mà không chấp nhận cuộc sống không đáng sống hiện tại. Cái bất công cho mình không phải là cá biệt của riêng mình mà là hoàn cảnh chung cho cả mọi người. Yêu cầu giải quyết riêng cho mình, dù là dưới dạng làm đơn, trong tinh thần xin/ cho hay “đối thoại tương kính” thì chỉ có một mình mình. Kết quả hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của kẻ nắm quyền. Nhưng nếu đặt thua thiệt của mình trong toàn cảnh bất hạnh chung của cả dân tộc, thì vấn đề sẽ khác. Người người sẽ xông lên, không phải là để chờ đợi đơn xin được cho, mà là giành lấy cái quyền giải quyết vấn đề cho mình và cho dân tộc, từ tay một bọn thiều số tay sai dựa vào ngoại quốc nồ nạt người dân. Đó là trả lời cho câu hỏi “bao giờ dân tộc hết trầm luân”.
Tuệ Vân
Ngày 7 tháng 9 năm 2009
>> Xem Tiếp!
Phái đoàn Nông Đức Mạnh tiếp tục bị “dàn chào” tại Sydney
September 9, 2009
Tiếp theo sau cuộc biểu tình hôm qua tại thủ đô Canberra, lúc 4.30g chiều hôm nay thứ Ba 8/09/2009, người Việt tỵ nạn Úc Châu có cuộc biểu tình tại Sydney, để phản đối sự có mặt của phái đoàn CSVN do Nông Đức Mạnh cầm đầu. Đây là cuộc biểu tình thứ nhì để phản đối chuyến đến Úc của Mạnh.Nơi tụ tập biểu tình là phía trước quốc hội tiểu bang NSW trên đường Macquarie của trung tâm thị tứ Sydney, là nơi mà phái đoàn CSVN do Mạnh cầm đầu dự trù viếng thăm theo chương trình.
Trước giờ sinh hoạt chính thức của chương trình, các MC Võ Minh Cương, Ánh Linh, Quốc Dũng và Nguyễn Thân thay phiên điều khiển phần sinh hoạt “warm-up” (hâm nóng) tấm lòng của người tham dự biểu tình bằng hàng loạt khẩu hiệu tiếng Việt và Anh.Ngay sau phần chào cờ Úc-Việt, thay mặt Ban tổ chức cuộc biểu tình, LS.Võ Trí Dũng, cũng là vị chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự do tiểu bang NSW, đã thay mặt đồng hương vắn tắt lý do của cuộc biểu tình với công chúng Úc và giới thiệu với đồng hương sự hiện diện của chiến sĩ Võ Đại Tôn, và hai người bạn quý của người Việt là David Clark và Charlie Lynn là Thượng Nghị Sĩ của Đảng Tự Do tại quốc hội tiểu bang NSW.. Ông thay lời kết bằng cách hô to khẩu hiệu với đồng hương:
Freedom for Vietnam, Now, now, now,…
Human Rights for Vietnam, Now, now, now,…
Tiếp theo, TNS David Clark nói rằng “chúng ta có mặt tại đây hôm nay là để ghi nhớ công ơn của những người đã ngã xuống vì hai chữ Tự Do” và cũng để phản đối phái đoàn của Nông Đức Mạnh. TNS David Clark nói, nếu có dịp gặp Mạnh thì nhất định ông sẽ chất vấn một số câu hỏi “thông thường” nhất, chẳng hạn như:
• Tại sao lại có sự hiện diện của người Việt tỵ nạn tại Úc?
• Khi nào nhà cầm quyền CSVN sẽ trả tự do cho các tù nhân lương tâm, tôn giáo và những nhà bất đồng chính kiến?
Ông cho rằng, Nông Đức Mạnh và lãnh tụ CS Bắc Hàn Kim Chính Nhật đều là “cá mè một lứa”, chẳng khác nhau gì bởi vì đều là lãnh tụ CS độc tài.
Ông còn nói, khi chính phủ Úc đón tiếp phái đoàn Mạnh ở Canberra thì chỉ có loe ngoe vài ba lá cờ đỏ, nhưng giờ đây trước mặt ông là cả một rừng cờ Vàng. Đã có ngày CNCS chấm dứt ở Nga, Đông Âu thì sẽ có ngày CNCS cũng phải tiêu tan tại Việt Nam và các nước CS còn lại. Vừa dứt lời, ông nhận được một tràng pháo tay hoan hô vang dội. Ông chấm dứt lời phát biểu bằng một khẩu hiệu tiếng Việt “Đả đảo cộng sản!”.
TNS Charlie Lyn, một cựu quân nhân Úc từng tham chiến tại VN từ năm 1967, cho biết: “Tôi và đồng đội đã có mặt ở đó để chiến đấu vì Tự Do. Chúng ta không thất bại ở chiến trường, mà đã thất bại trên đường phố ở Sydney, New York,… Chính phủ Tự Do của Malcolm Fraser là chính phủ Úc đầu tiên mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn VN. Chính vì được sống trên mảnh đất tự do này mà hôm nay quý vị mới có được quyền biểu tình, không như ở VN. Và tôi hoan nghênh, chào đón các bạn trở lại đây trong tương lai. Hãy tiếp tục đấu tranh vì hai chữ Tự Do, và lá cờ Vàng mới là lá cờ xứng đáng được treo bên trong trụ sở quốc hội hôm nay thay cho lá cờ máu”.
Được Ban tổ chức mời phát biểu bằng tiếng Anh với công chúng Úc đang đứng chung quanh, chiến sĩ Võ Đại Tôn nói “chúng tôi xin cám ơn các bạn vì tấm lòng quảng đại đã nhận người tỵ nạn VN. Điều này cũng không có nghĩa rằng chúng tôi không thể phản đối việc làm sai trái của chính phủ Úc vì đã mời Nông Đức Mạnh, lãnh tụ của một thể chế độc tài”. Ông cũng nhắc lại sự hy sinh của hơn 500 binh sĩ Úc đã chiến đấu vì Tự do. và cho rằng là người đứng đầu ĐCSVN, Nông Đức Mạnh không có lý do gì để đến Úc mà “Nông Đức Mạnh nên về với cha của mình là HCM ở địa ngục”. Nói rồi ông hô to “Nông Đức Mạnh go to hell,…” và nhận được sự đáp lời vang dội của đoàn biểu tình.
LS.Võ Minh Cương: CSVN là một chế độ độc tài, độc đảng không được dân bầu ra. Chừng nào chế độ độc tài này còn thì vẫn sẽ còn những cuộc biểu tình như thế này”
Một vị đại diện tôn giáo là ông Nguyễn Paul, đại diện Phật giáo Hòa hảo phát biểu: “tôi rất cảm động vì tấm lòng của đồng bào. Chúng ta có mặt tại đây hôm nay là vì VC bán nước, dâng biển cho Tàu Cộng, nay lại cho chúng vào khai thác Bauxite, tàn phá quê hương chúng ta,… Nông Đức Mạnh là đầu lãnh của ĐCSVN gian manh, bịp bợm”.
Mặc dầu sức khoẻ không cho phép nhưng Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, vị cựu chủ tịch Cộng đồng Liên bang và tiểu bang cũng lên chia sẻ với đồng hương. Ông nói “Trong cuộc biểu tình hôm qua tại Canberra, con số tham dự là 800, thì hôm nay con số này lên gấp đôi,… Chúng ta có mặt tại đây bởi vì không bao giờ chấp nhận một chế độ phi nhân, gian xảo. Không được người dân bầu ra thì Nông Đức Mạnh chẳng đại diện cho ai cả, ngoài cái chức TBT Đảng”.
Ngay sau lời phát biểu của BS.Tiến, MC Nguyễn Thân thông báo cho đồng hương biết “Phái đoàn Nông Đức Mạnh vừa mới vào bên trong quốc hội lúc 6g bằng cửa … hậu, không kèn trống cờ quạt”. MC Ánh Linh cũng tiếp lời khi cho rằng, tuy chính phủ Úc sai lầm trong việc tiếp đón Nông Đức Mạnh, nhưng cũng còn “biết điều” vì không treo cờ lá cờ máu bên ngoài trụ sở quốc hội.
Là người phát biểu cuối cùng, Ô.Nguyễn Văn Thanh nêu lên một số lý do tại sao không thể đón tiếp Nông Đức Mạnh như sau:
• CSVN dâng biển đảo cho TC.
• Cướp đất, trù dập, bỏ tù dân oan
• Tiếp tục vi phạm nhân quyền
• Đàn áp tôn giáo, mà điển hình nhất là vụ Thái Hà và Tam Tòa mới đây.
• Cầm tù hàng trăm nhà bất đồng chính kiển là sinh viên học sinh, luật sư,…
• Úc là một nước Tự do nên không thể đón tiếp một lãnh tụ CS độc tài.
Cuộc biểu tình chấm dứt đúng 6.30g tối bằng lời cảm tạ của vị chủ tịch cộng đồng, LS.Võ Trí Dũng đến đồng hương, cũng như lực lượng cảnh sát đã giúp giữ gìn an ninh cho đoàn biểu tình.
Ghi nhanh tại chỗ từ Sydney
Ngày 8/09/2009
Lê Minh
Đồng hồ vừa chỉ đúng 6.25pm thì MC. LS.Thân thông báo với đồng hương “Cảnh sát Úc cho biết là phái đoàn NĐM vừa mới quay trở ra, tức là chỉ có mặt bên trong quốc hội tiểu bang vỏn vẹn đúng 20 phút để … xã giao”, thì cả một rừng người cười ồ lên,….
>> Xem Tiếp!
Tại Sao Tôi Phải Làm Thơ
Một ngày tám tiếng đi làm,
mưu sinh
Giờ cho con cái, gia đình;
Còn thừa tôi gói để dành
tôi, thơ
Có khi cơn ngủ chập chờn
Tiếng quê Mẹ giục hồn thơ
trở mình
Có khi nhói bởi bản tin
Người con gái Việt chữ trinh
quá bèo!
Có khi dĩ vãng còn đeo
Tiếng kinh cứu khổ biển gào
thảm thương!
Chao ôi! nỗi nhục đoạn trường
Nên tôi phải viết nhìn phương
quê nhà
Thơ cho người chết oan, sai
Thơ vương màu tóc u hoài
tuổi xuân
Thơ cho Mẹ Việt bạc phần
Thơ chia ly với quẩn quanh
nguyện cầu
Mai kia tôi chết... về đâu
Thì thơ ở lại bắc cầu
em đi.
Mạc Trần Lan
>> Xem Tiếp!
Thông Báo / Thư Mời Họp Ngày 10 Tháng 9, 2009 để chuẩn bị cho Ngày 12 tháng 9, 2009
www.vietvoter.com
P.O. Box: 0 San Jose, CA 95151-0015
ĐT:(408) 591-1699 ~ Email: vietvoters@gmail.com
Thông Báo
Kính thưa quý đồng hương,
Sau khi nghiên cứu các văn bản lưu trữ tại văn phòng Hội Đồng Thành Phố San Jose liên quan đến dự án xây dựng Trung Tâm Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt tại San Jose, chúng tôi nhận thấy có sự mờ ám không chính danh. Do đó chúng tôi kính mời đồng hương dành chút thời giờ tham dự buổi họp:
tại văn phòng Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Bắc California
số 2129 South 10th Street, San Jose, CA 95121
Để gặp Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc California và nhận các tài liệu để nắm vững vấn đề cần phát biểu tại buổi họp ngày 12 tháng 9, 2009 với Lực Lượng Đặc Nhiệm.
San Jose, CA Ngày 9 Tháng 9 Năm 2009
TM Liên Đoàn Cử TriChủ Tịch Ban Chấp Hành
LS Ngô Văn Tiệp
>> Xem Tiếp!
Thông Báo v/v Buổi Họp Ngày 12 Tháng 9, 2009
www.vietvoter.com
P.O. Box: 0 San Jose, CA 95151-0015
ĐT:(408) 591-1699 ~ Email: vietvoters@gmail.com
**********
Sau khi đã tiếp xúc với đại diện Cơ Quan Tái Thiết Thành Phố San Jose và một số thành viên trong Lực Lượng Ðặc Nhiệm có nhiệm vụ thu thập ý kiến của toàn thể cư dân về Dự Án Xây Dựng Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt tại San Jose, và sau khi tham khảo ý kiến của Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Việt Nam Bắc California.
LIÊN ÐOÀN CỬ TRI NGƯỜI VIỆT BẮC CALIFORNIA trân trọng kính mời quý đồng hương dành thời giờ đến tham dự Diễn Ðàn Công Luận do Lực Lượng Ðặc Nhiệm VACC tổ chức:
Ðịa Ðiểm: Trường Trung Học Yerba Buena (Phòng Tập Thể Dục Thể Thao)
1855 Lucretia Avenue, San Jose, CA 95112
Ðể bày tỏ ý kiến của người Việt tỵ nạn đối với cái gọi là “Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt” tại San Jose, mà thực chất là Một Trung Tâm Ða Văn Hóa, nghĩa là mọi sắc dân khác không phải là người Mỹ gốc Việt, cũng có quyền sử dụng cái trung tâm cộng đồng mang danh xưng của Người Mỹ Gốc Việt này. Thế nhưng Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn lại mang tiếng là được thụ hưởng ngân khoản hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn ($2.75 triệu) chi phí xây dựng trung tâm này.
Xin đồng hương cử tri gốc Việt hãy đến thật đông để nói cho thành phố San Jose và mọi người biết rõ rằng: Cộng Ðồng Việt Nam không phải là một cộng đồng di dân như nhiều sắc dân khác, mà là một cộng đồng Tỵ Nạn Cộng Sản.
Chúng ta cần phải có mặt để nói lên tiếng nói của mình. Mỗi tiếng nói là một lá phiếu, không nói có thể bị xem là thầm lặng đồng ý. Diễn Đàn ngày 12-9 là một buổi phát biểu ý kiến có tính cách xây dựng và ôn hòa, rất mong quý đồng hương chuẩn bị sẵn ý tưởng để sự phát biểu được thuận lợi.
San Jose, CA Ngày 9 Tháng 9 Năm 2009
TM Liên Đoàn Cử TriChủ Tịch Ban Chấp Hành
LS Ngô Văn Tiệp
>> Xem Tiếp!
Monday, September 7, 2009
Ai là “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam ?
đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam ?
Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa gửi đến Phòng Thônbg tin Phật giáo Quốc tế bài viết “Điên đảo” mà trọng tâm nhằm phân tích sự kiện Nhà cầm quyền Hà Nội bắt bớ, khủng bố những người YÊU NƯỚC mà Hà Nội kết án tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”. Thế nhưng, Nhà cầm quyền Hà Nội chẳng bao giờ tự vấn lương tâm để tìm ra thủ phạm : Ai là “Thế lực thù địch” của dân tộc đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam ?
Xin mời quý độc giả đọc bài phân tích ấy sau đây :
ĐIÊN ĐẢO
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thường gán tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền” lên các thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Giáo Hội độc lập của các tôn giáo, các thân hào, nhân sĩ, các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, các sinh viên, học sinh biểu tình, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Tổ quốc Việt Nam.
Không một quốc gia văn minh, dân chủ nào trên thế giới có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”, không luật pháp nước nào có tội danh đó.
- Tại sao Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản luôn có các “Thế lực thù địch”?
Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dùng vũ lực cưỡng chiếm miền Nam rồi duy trì sự cai trị độc tài, độc đảng suốt từ đó đến nay bằng súng đạn, quân đội, nhà tù, công an, khủng bố, bưng bít, lừa dối, tuyên truyền. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam là một trong số rất ít những nhà cầm quyền còn sót lại trên thế giới đã cướp chính quyền bằng bạo lực. Trong khi đó, toàn dân lại luôn mong muốn có một chính quyền được bầu cử hợp pháp bằng lá phiếu của người dân một cách tự do, dân chủ, công bằng, một chính quyền thật sự của dân, do dân, và vì dân. Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên Nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cũng cảm thấy có “các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền”.
Trong một chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng, câc đảng phái, mặc dù đối lập nhau, nhưng không thù địch, trái lại, hỗ tương, bổ khuyết nhau, rất cần cho sự cạnh tranh để phát triển đất nước. Trái lại, dưới chế độ độc tài, độc đảng, thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đều bị xem là vi phạm luật pháp, là thù địch.
Mặc dù bị nhà cầm quyền độc tài bỏ tù, quản thúc, gán tội vi phạm luật này, luật nọ, những điều luật mơ hồ, phản tự do, phi dân chủ, chống nhân quyền, trái với Công ước quốc tế… những người bị hãm hại này lại chính là những người mà Đức Cố Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang gọi là những người “tù không tội”. Bởi vì vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, góp công với đất nước, sao gọi là tội?
- Các “ thế lực thù địch” của Nhà cầm quyền cộng sản là ai ?
“Thế lực thù địch” dễ biết nhất là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở nước ngoài, tiếp đến là các đảng phái chính trị không cộng sản trong và ngoài nước, và cuối cùng là 85 triệu người dân Việt trong nước ngày đêm mong muốn được sống trong không khí Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số tổ chức, hội đoàn và chính quyền các nước văn minh chống độc tài, độc đảng, yểm trợ các phong trào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng, phát triển tại Việt Nam.
- Có “âm mưu lật đổ chính quyền” hay không?
Tất cả các đảng Cộng sản trên thế giới đều dùng bạo lực để cướp chính quyền. Trái lại, các đảng phái chính trị, không cộng sản, của người Việt trong và ngoài nước, các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh và 85 triệu người dân trong nước, hiện nay, không có thành phần nào chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền.
Theo trào lưu dân chủ trên thế giới, người dân Việt Nam, ai cũng mong muốn có một cuộc bầu cử trong tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra một chính quyền đích thực “của dân, do dân, và vì dân”. Đảng phái nào được dân ủng hộ, đắc cử, thì đứng ra lập chính quyền. Trong thế giới dân chủ, văn minh ngày nay không chấp nhận việc dùng bạo lực để cướp chính quyền. Cũng không chấp nhận việc dùng súng đạn, công an, nhà tù…để duy trì quyền lực.
Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam, theo chủ thuyết Mác-Lê, vừa sai lầm, vừa lạc hậu đã cản trở bước tiến của dân tộc. Vì đặc quyền đặc lợi, muốn tiếp tục nắm giữ quyền hành, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại không dám tranh cử công bằng với các đảng phái, cá nhân thuộc thành phần đối lập, nên cố tình gán cho các thành phần khác là “các thế lực thù địch” để dễ tuyên truyền, đàn áp, tiêu diệt. Việc ghép tội “âm mưu lật đổ chính quyền” lên các cá nhân, đảng phái đối lập là hoàn toàn vu cáo.
Tình trạng độc tài đảng trị lâu ngày sinh ra các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cắt xén, mua bằng, bán chức…làm băng hoại xã hội, cản trở bước tiến của dân tộc. Lo lắng trước hiểm hoạ độc tài này, trong Thư Chúc Xuân gửi các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ năm Ất Dậu, 2005, Đại Lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nói rằng, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị”. Hoà thượng đã đề nghị giải pháp đa nguyên đa đảng, bước đầu có thể là 3 đảng, “Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu”. Nhưng Nhà cầm quyền cộng sản cứ khăng khăng cố giữ thể chế độc tài độc đảng, cho rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Điều 4 trong Hiến Pháp hiện nay, dành cho Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước, giống như thời phong kiến, Thiên tử, con trời, được độc quyền cai trị đất nước, không ai được tranh giành.
Nghị quyết 1481, ngày 25.1.2006, Quốc Hội Âu châu đã lên án các Đảng cộng sản trên thế giới là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc, là tội ác chống nhân loại. Hoa kỳ đã lập Đài tưởng niệm trên 100 triệu nạn nhân đã bị các chế độ cộng sản sát hại trên thế giới. Vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục làm những việc trái luật pháp, phản dân chủ, bắt người, giam giữ mà không cho liên lạc với thế giới bên ngoài, không cho luật sư biện hộ, dùng những lời khai, đưa lên báo, đài để bôi nhọ, lăng nhục, trong khi Hiến Pháp, điều 72, xác nhận rằng: “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
Không sao cả, có thể, nay một vài luật sư, mai vài ba bác sĩ, ngày mốt là các tu sĩ, bữa kia là công nhân, rồi tiếp đến là nông dân, thương gia, sinh viên, học sinh…các giới cùng bị đưa lên báo, đài, với cùng tội danh, “chống nhà cầm quyền độc tài, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý”. Càng có nhiều người chống độc tài, nền dân chủ sẽ đến với dân tộc ngày càng gần hơn.
Mỗi người, tuỳ sức khoẻ cá nhân, tuỳ hoàn cảnh gia đình, vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu, có cách đối phó riêng trong cuộc chiến giành tự do rất gian khó này. Cần phải sống để giành cho được Tự do, Độc lập cho dân tộc. Cái tội, “chống độc tài, yêu tự do”, ai lại không muốn lãnh? Nếu những người vận động cho tự do, dân chủ, nhất thời có bị đàn áp, chỉ đưa tới sự thắng thế của bạo lực, không có gì phải tủi hỗ. Cuối cùng, Tự do, Dân chủ sẽ thắng!
Tuy chăm chú việc lên án các đảng phái chính trị và những người khác chính kiến là “thù địch”, nhưng hiện nay Nhà cầm quyền cộng sản, luôn tránh né, không bao giờ đề cập, lên án tội “Cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam”, cái tội liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của tổ quốc và dân tộc mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo, các đảng phái, các tổ chức, các sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh và 85 triệu người dân đang rất quan tâm, hồi hộp, lo lắng từng ngày. Nếu gọi là thù địch thì giặc ngoại xâm mới thật sự là thù địch. Không nên điên đảo, nhìn kẻ cướp nước là bạn, xem đồng bào ruột thịt là thù.
Cái “ Thế lực thù địch lâu đời” này mới đáng lo, nó không âm mưu lật đổ chính quyền, mà nguy hại hơn, “âm mưu xâm chiếm Tổ quốc Việt Nam!” . Việc thay đổi chính quyền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Tổ quốc là của chung, không phải riêng ai. Các đảng phái thay nhau lập chính phủ chỉ là sự cạnh tranh, cần có, tránh sự trì trệ, để phát triển đất nước. Không thể một mình một chợ, một đội bóng một sân banh, mặc tình, tham nhũng, hối lộ, cắt xén, làm đất nước suy yếu, nghèo đói, tụt hậu. Nay, đảng này lên, mai, đảng kia xuống, chỉ là những chuyện thường ngày trong các bản tin thời sự quốc tế, không có gì là quan trọng, ầm ĩ hay thù địch. Tổ quốc bị xâm lăng mới là chuyện lớn, mới là chuyện thù địch.
- “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm mưu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam” là ai?
Hỏi tức là trả lời. Toàn dân, già, trẻ, lớn, bé, ai cũng biết, cái “thế lực thù địch” với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay chính là Bắc phương ! Việt Nam đang bị Hán hoá! Hoạ mất nước đã bắt đầu:
- Năm 1958, Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố lãnh hải của Trung quốc bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam. Năm 1974, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng sa. Năm 1979, Trung cộng đánh chiếm 6 tỉnh miền Bắc, khi rút về, dời cọc biên giới, lấy mất Ải Nam quan, Thác Bản Giốc. Năm 1988, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Trường sa. Năm 2005, 2006, ngư dân Thanh Hóa ra đánh cá trong vùng lãnh hải Việt Nam quen thuộc, nhiều lần bị lính Trung cộng bắn chết, bắt người bị thương, cướp ghe thuyền kéo về giam cầm tại đảo Hải Nam Trung quốc. Năm 2007, Trung cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam sa bao gồm các quần đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam. Năm 2008, Trung cộng và nhà cầm quyền Hà nội hoàn thành việc cấm mốc biên giới phía Bắc lùi sâu vào địa phận lãnh thổ Việt Nam. Năm 2009, Trung cộng được nhà cầm quyền Hà nội mời vào khai thác quặng Bô-xit ở Tây nguyên, gây nguy cơ an ninh quốc phòng nơi vùng chiến lược yết hầu của Việt nam và Đông dương do sự uy hiếp của hàng chục nghìn công nhân Trung quốc. Ngoài ra còn tàn phá môi trường, thải ra hàng núi Bùn đỏ độc hại làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, lâu dài trong lòng đất, sông ngòi và khí hậu cho cả khu vực Nam Trung bộ và Miền nam Việt Nam. Nguy hại nhất là vị trí chiến lược quốc phòng bị chiếm đóng. Năm 2009, Trung cộng cấm đánh cá 3 tháng trên Biển Đông, bắt tàu thuyền, ngư dân Việt Nam, đòi tiền chuộc…
Suốt 4 ngàn năm lịch sử, ông cha ta không làm mất một tấc đất, ngày nay, mới vài chục năm, tổ quốc đã bị xâm lấn từ biên giới phía Bắc đến hải đảo phía Đông, cả Tây nguyên cũng sắp mất.
Đã xác định được “thế lực thù địch âm mưu xâm lăng Tổ quốc” là “Trung cộng” thì cũng xác định được:
- Ai là kẻ “cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng Tổ quốc”?
Nhân dân Việt Nam, với truyền thống anh hùng, mấy nghìn năm chống “thế lực thù địch phương Bắc”, tại sao ngày nay lại để quê hương tổ quốc, từng phần, rơi dần vào tay kẻ thù truyền kiếp một cách âm thầm như vậy?
Phải có sự cấu kết trong nước nên các cuộc biểu tình, lên tiếng chống Trung cộng của sinh viên, học sinh và đồng bào ta mới rụt rè, yếu ớt, mau tàn rụi vì bị hăm doạ, cản trở từ phía Nhà cầm quyền vào đến cảc trường đại học bởi lý do: “không được phép”.
Phải có sự cấu kết trong nước, Trung cộng mới vừa là kẻ xâm lăng vừa lại được ưu tiên trong việc đấu thầu các công trình khai thác ở Việt Nam.
Phải có sự cấu kết trong nước, Trung cộng mới dễ dàng xâm chiếm các hải đảo, lãnh hải, biên giới, đưa dân tràn vào Việt nam một cách tự do, ào ạt, không cần chiếu khán. Đây là một cuộc xâm lăng kiểu mới, rất tinh vi, quân dân Trung cộng đang đổ bộ vào chiếm đóng nước ta một cách nhẹ nhàng, êm thắm, không tốn một viên đạn, không mất một giọt máu.
Quân đội và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong các trận chiến đảo Hoàng sa năm 1974, đảo Trường sa năm 1988, nhất là cuộc chiến rất ác liệt ở biên giới phái Bắc năm 1979, gần 40 nghìn quân đân Việt Nam đã bỏ mình vì tổ quốc, vậy mà hàng năm không thấy tổ chức kỷ niệm, nêu gương hy sinh bảo vệ tổ quốc cho con cháu noi theo. Trái lại, cứ mỗi lần Tết đến, Nhà cầm quyền lại tổ chức viếng lễ các nghĩa trang quân xâm lăng Trung cộng, đặt vòng hoa: “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung quốc”.
Công Hàm ngày 14.9.1958, do Thủ tướng Bắc Việt, Phạm văn Đồng, ký công nhận tuyên bố của Trung cộng, lãnh hải Trung quốc bao gồm đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, có phải là bằng chứng cấu kết với thế lực thù địch âm mưu xâm lăng tổ quốc?
Phương châm 16 chữ vàng : “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 tốt : “láng giềng tốt, hợp tác tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. có phải là bằng chứng của sự cấu kết ?
Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Mác-Lê với lý tưởng: “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc đã: “ hợp tác toàn diện” theo lý tưởng “vô tổ quốc” trong tinh thần: “đồng chí tốt” thì còn gì là Dân tộc!, còn gì là non sông!
Hoạ mất nước đã đến, tái hiện cảnh: Ngàn năm làm nô lệ Bắc phương !
Tổ quốc lâm nguy!!!
Thích Viên Định.
>> Xem Tiếp!
Friday, September 4, 2009
Chương Trình Radio Ngày 05.09.09
- Phần phóng sự về các sinh hoạt mới tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng Bắc California.
- Buổi hội luận của Lê Lộc với hai vị phó chủ tịch Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc California: anh Thomas Nguyễn và bác sĩ Nha Khoa Hồ Vũ về những chương trình vận động tài chánh để giúp cho Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Bắc California và Liên Đoàn cử Tri có thêm tài chánh để phục vụ đồng hương Việt Nam tại bắc California.
- Buổi phỏng vấn với chị Phan Mỹ Linh là một trong 21 thành viên Đặc Nhiệm (Task Force) của dự án xây dựng Trung Tâm Sinh Hoạt của người Mỹ gốc Việt do cơ quan Tái Phát Triển (RDA) của thành phố San Jose phụ trách. Có nhiều chi tiết mới khá lý thú trong cuộc phỏng vấn này.
- Bài viết của giáo sư Nguyễn Châu với tựa đề “Huyền thoại của một trung sinh hoạt cộng của người Việt".
>> Xem Tiếp!
Wednesday, September 2, 2009
Không ai muốn bất hạnh đến với mình
Đời sống của con người là một chuỗi ngày sinh ra để sống rồi chết. Trong chuỗi ngày này, vấn đề không phải là một trăm năm hay vài chục năm. Mà khi sống, người ta đã làm được những điều gì có ý nghĩa, cũng như không ai muốn những điều bất hạnh xảy đến cho mình và những người thân. Những điều bất hạnh là những chuyện không nằm trong quy luật : sinh ra, già yếu, bịnh hoạn, để rồi chết với quan điểm “con kiến còn ham sống.”
Tuy không muốn, nhưng con người vẫn thường phải đón nhận những chuyện bất hạnh, không vui. Một trong những trường hợp không vui đã xảy đến cho gia đình ông Phạm Vinh , là việc cậu Daniel Sơn Phạm bị cảnh sát San Jose bắn chết đúng vào ngày “Mother day” 10 tháng 05 năm 2009 vừa qua.
Daniel Daniel Sơn Phạm bị bắn chết tới nay, ngày tôi viết những giòng chữ này, đã được hơn 100 ngày 2 tuần. Cái chết của Daniel Sơn Phạm vẫn còn bít kín và vẫn chưa được chính quyền thành phố làm sáng tỏ nội vụ.
Có thể nói cái chết của Daniel Sơn Phạm là một vụ án mạng hy hữu. Hy hữu vì kẻ gây ra án mạnh là nhân viên công lực. Nhân viên công lực ở đây là nhân viên cảnh sát - người hưởng bổng lộc do dân đóng thuế được gọi đến để giúp nạn nhân. Nhưng ngược lại, họ đã trở thành kẻ giết người. Thật là oái oăm! Vì trên đời này không có chuyện nghịch lý là người ta đóng thuế để đi mướn người đến giết thân nhân họ.
Cái chết của Daniel Sơn Phạm không những riêng trong cộng đồng Việt Nam bàng hoàng, mà hầu như mọi cư dân trong thành phố San Jose đều ngẫng ngơ, sững sốt.
Xin hãy nghe lời kể của ông Phạm Vinh, cha nạn nhân. Để thấy rằng thảm cảnh xảy ra có những điều mà sở cảnh sát cần xét lại việc làm “giúp đở dân” của họ.
Theo lời ông Phạm Vinh, thì con trai ông là cậu Daniel Sơn Phạm 28 tuổi bị bịnh tâm thần đã lâu. Sơn bị bịnh từ khi còn đi học ở college. Chính vì bịnh nên Sơn đã không theo đuổi việc học đến nơi đến chốn.
Biết con mình chẳng may bị bịnh, nên mọi người trong gia đình ông Vinh, ai cũng hết sức thương yêu, chịu đựng và giúp đở Sơn vượt qua mọi cơn khủng hoảng tâm lý. Trong tiến trình chữa trị với những khó khăn thỉnh thoảng xảy ra, gia đình ông Phạm Vinh đã ba lần gọi 911 để nhờ cảnh sát đến đưa Phạm Sơn vào bịnh viện.
Ông Phạm Vinh cho biết, mỗi lần Sơn lên cơn để đến nỗi gia đình phải nhờ cảnh sát can thiệp, là mỗi lần gia đình ông lo sợ khi nghĩ đến thảm cảnh của Trần Thị Bích Câu năm nào. Bích Câu đã bị cảnh sát bắn chết. Thế nên, chẳng đặng đừng gia đình ông mới nhờ đến cảnh sát. Nhưng, nỗi lo sợ của gia đình ông Vinh đã trở thành sự thật. Đến lần thứ tư, khi gọi cảnh sát đến can thiệp, thì việc bất hạnh lại xảy ra.
Khi nhân viên cảnh sát đến nhà, người anh của Daniel Sơn Phạm là Brian Phạm đã lên tiếng báo động với cảnh sát rằng, Daniel Sơn Phạm là một người đang mắc bịnh tâm thần. Đồng thời Brian Phạm đã ba, bốn lần lên tiếng nhắc nhở, dặn dò, khẫn khoản với cảnh sát “Xin đừng bắn em tôi!”. Nhưng, hình như những người cảnh sát hành sự không quan tâm đến những lời khuyến cáo, van xin tha thiết của Brian Phạm. Họ bất chấp lời nhắc nhở của người dân và cứ lặng lẽ làm theo ý của họ. Điều này, đã cho thấy thiếu sự hợp tác, khi lúc nào họ cũng hô hào kêu gọi sự hợp tác của người dân.
Khi đến nơi, từ phía trước nhà, nhân viên cảnh sát tiến về phía sân sau nơi Daniel Sơn Phạm đang đứng một mình. Họ nhắm vào Daniel Sơn Phạm bắn 4,5 phát liền một lúc làm Sơn ngả gục chết liền tại chỗ.
Ông Phạm Vinh ngậm ngùi kể. Trong hoàn cảnh hiện trường vừa trình bày. Nếu nhân viên cảnh sát là những người có lòng nhân hậu và với tinh thần phục vụ người dân đúng đắn. Và là người tỉnh táo hơn Daniel Sơn Phạm, cảnh sát phải biết xử trí ra sao với một bịnh nhân tâm thần. Trước tiên họ phải có lòng trắc ẩn, thương cảm để “nới tay” đối với người bịnh. Hơn nữa Sơn đang đứng một mình và trong tình trạng không có thể gây nguy hiểm đến cho bất cứ một người nào, kể cả với họ. Nên điều người cảnh sát phải làm, nên làm là dùng lời khuyến dụ, thuyết phục để làm hạ cơn rối loạn tâm thần của Daniel Sơn Phạm rồi tìm cách đưa người bịnh vào nhà thương. Nhưng than ôi! những người “bạn dân” được mời đến giúp dân họ không làm việc này. Để giải quyết công việc một cách mau chóng và không cần suy nghĩ lôi thôi. Nhân viên cảnh sát đã nổ súng bắn chết Daniel Sơn Phạm ngay tại chỗ. Hành động này, khiến người ta liên tưởng đến phim cao bồi có tựa đề “Bắn Chậm Thì Chết” dạo nào.
Trong cuộc phỏng vấn của ông Thomas Nguyễn trên chương trình phát thanh của LDCTNV/BCL nào ngày thứ Sáu 22 tháng 8 năm 2009 vừa qua. Luật sư Nguyễn thị Thu Hương, người đang đảm trách hồ sơ Daniel Sơn Phạm cho biết 100 ngày đã trôi qua. Nhưng, tới giờ phút đó bên Sở Cảnh Sát thành phố vẫn chưa công bố một chi tiết nào về cái chết của Daniel Sơn Phạm.
Luật sư Thu Hương còn cho biết, theo lẽ thông thường thì chỉ trong một tuần lễ phải có bản báo cáo rồi. Về phía Giám định Pháp y cũng không được nhắc tới và ngay cả tên tuổi nhân viên cảnh sát bắn chết nạn nhân cũng không được tiết lộ. Những sự kiện vừa nói, đã cho thấy có những điều bất thường trong cái chết của Daniel Sơn Phạm, so với cái chết của Trần thị Bích Câu năm nào. Đối với vụ Trần thị Bích Câu, tất cả hồ sơ liên quan tới nội vụ chỉ trong một tuần đã được công bố công khai.
Qua cái chết Daniel Sơn Phạm với tinh thần làm việc của Sở Cảnh Sát, Văn Phòng Biện Lý và Văn phòng Thị Trưởng thành phố “đã không tránh khỏi người dân nghi ngờ” cái chết của Daniel Sơn Phạm do cảnh sát gây ra, là một vi phạm nghiêm trọng trong cách hành xử của cảnh sát khi tiếp cận với người dân.
Được biết trong Ngày Hội Cộng Đồng 23/8/09, đã có trên 600 đồng hương ký tên vào Bản Thỉnh Nguyện Thư của gia đình ông Phạm Vinh yêu cầu Hội Đồng Thành Phố làm sáng tỏ cái chết của Daniel Sơn Phạm và Sở Cảnh Sát công bố nội dung cuộn băng thu âm khi gia đình Daniel Sơn Phạm gọi 911 cầu cứu với Sở Cảnh Sát .
Sự việc xảy ra chưa ai khẳng định nhân viên ảnh sát đã hành sự đúng hay sai nguyên tắc. Nguyên tắc ở đây, là những điều người cảnh sát được huấn luyện tại trung tâm huấn luyện và sự uyển chuyển làm sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế nơi hiện trường. Nhưng, điều tôi muốn nêu ra việc làm sáng tỏ nội vụ một cái chết, là bổn phận và nhiệm vụ của Sở Cảnh Sát, Hội Đồng Thành Phố, Văn phòng Biện Lý Cuộc khi có sự khiếu nại trong tinh thần luật định. Một việc mà chính quyền phải thực hiện càng sớm càng tốt, để tránh sự hoang mang trong lòng người dân.
Làm sáng tỏ một vụ án mạng ở đây, không có nghĩa bắt buộc chánh quyền phải thừa nhận lỗi lầm ngộ sát hay cố sát. Mà là sự giải thích rõ ràng quan điểm của chính quyền đối với sự việc để người dân an tâm sinh sống và tin tưởng vào sự làm việc của nhân viên cảnh sát. Thái độ trì hoản của chính quyền với thời gian dài bất thường, đã cho thấy chính quyền Chuck Reed khinh thường tiếng nói và mạng sống của người dân. Và những cơ quan liên hệ trong chính quyền không làm điều này là trái với lương tâm và công lý.
CĐVN là một cộng đồng thiểu số. Nhưng, về phương diện công dân Hoa Kỳ , người Việt đã đóng góp vào sự phồn vinh của thành phố San Jose. Do đó, họ có quyền đòi hỏi chính quyền giải đáp những thắc mắc, khiếu nại và thỉnh nguyện trong tinh thần thượng tôn luật pháp. Cái chết của thanh niên Daniel Sơn Phạm trên phương diện đời sống thì cũng bình thường như những cái chết khác. Nhưng, làm sáng tỏ nguyên nhân cái chết có nhiều nghi ngờ là điều cần thiết.
Khi gia đình Micheal Jackson đòi hỏi chính quyền làm sáng tỏ cái chết của người ca sĩ tài danh và được chính quyền đáp ứng. Phải chăng gia đình Micheal Jackson nhờ có sức mạnh của đồng tiền? Điều này để mọi người thấy rằng, là thành phần thiểu số, cái vốn của chúng ta chỉ là những lá phiếu. Tuy thiểu số, nhưng trong các cuộc tranh cử vừa qua đã cho thấy những lá phiếu thiểu số này đã góp phần tích cực vào sự định đoạt chức vụ Thị trưởng, Nghị viên trong thành phố. Và cuối cùng, cộng đồng VNHN trên mọi phương diện đừng để chính quyền địa phương nơi mình cư trú nghĩ rằng, chúng ta chỉ là những cục thịt biết đi, biết đứng cho họ tùy tiện bóp méo, vo tròn .
*Đặng thiên Sơn (3/9/09)
>> Xem Tiếp!
Thiết giáp hạm USS Nevada (BB-36) Hoa Kỳ
(tên lóng: “Cheer Up Ship”[13]), chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên của tiểu bang thứ 36 của Hoa Kỳ, là chiếc dẫn đầu trong số hai chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nevada; chiếc tàu cùng loại với nó chính là chiếc Oklahoma. Được hạ thủy vào năm 1914, Nevada là một loại tàu chiến hạng nặng, với bốn trong trong số các đặc tính của nó hiện diện trên tất cả các thiết giáp hạm Mỹ sau này: tháp pháo với ba khẩu súng chính,[14] súng phòng không, thay thế than bằng dầu làm nhiên liệu, và nguyên tắc “tất cả hoặc không có gì” khi thiết kế vỏ thép. Các đặc tính này làm cho Nevada trở thành chiếc thiết giáp hạm “Siêu Dreadnought” đầu Nevada đã phục vụ trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới: trong những tháng cuối cùng của Thế Chiến I, Nevada đặt căn cứ tại vịnh Bantry, Ireland để bảo vệ các đoàn tàu vận tải đi và đến nước Anh. Trong Thế chiến II, nó là một trong những thiết giáp hạm bị kẹt lại bên trong vịnh khi Hải quân Nhật tấn công
Trân Châu Cảng. Nó là chiếc thiết giáp hạm duy nhất di chuyển được trong cuộc tấn công, khiến cho nó trở thành “điểm sáng duy nhất trong ngày ảm đạm và suy sụp đó” của nước Mỹ.
Dù vậy, nó vẫn bị đánh trúng một quả ngư lôi và ít nhất sáu trái bom trong khi di chuyển ra khỏi nơi neo đậu hàng thiết giáp hạm, buộc nó phải tự mắc cạn gần bờ. Sau khi được trục vớt và tân trang tại xưởng hải quân Puget Sound, Nevada trách nhiệm hộ tống các đoàn tàu vận tải tại vùng biển Đại Tây Dương, và yểm trợ hỏa lực cho nhiều cuộc tấn công đổ bộ tại Normandy và tại miền Nam nước Pháp; và trong trận Iwo Jima và trận Okinawa tại mặt trận Thái Bình Dương.
Sau khi kết thúc Thế Chiến II, Hải quân Mỹ đánh giá chiếc Nevada đã quá cũ để có thể giữ lại, nên họ đã dùng nó như một mục tiêu trong các cuộc thử nghiệm nguyên tử được thực hiện tại đảo san hô Bikini vào tháng 7 năm 1946 (Chiến dịch Crossroad). Sau khi chịu đựng hai trái bom nguyên tử, nó vẫn có thể nổi được nhưng bị hư hại và bị nhiễm phóng xạ nặng nề. Nó được ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 8 năm 1946 và bị đánh chìm trong một cuộc thực tập tác xạ pháo hải quân vào ngày 31 tháng 7 năm 1948.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Sơ đồ chiếc Nevada trước khi được cải tạo năm 1927
Sơ đồ chiếc Nevada sau khi được sửa chữa và tân trang năm 1942, hình của Cục tình báo Hải quân Mỹ.
Là chiếc thiết giáp hạm đầu tiên thuộc thế hệ thứ hai[16] và cũng là chiếc đầu tiên thuộc loại “Siêu-Dreadnought” của Hải quân Mỹ, Nevada được các sử gia hiện tại mô tả như là “cách mạng”[16][17] và “tối tân như chiếc Dreadnought vào thời của nó”[18]. Vào lúc nó hoàn thành vào năm 1916 [19] báo New York Times nhấn mạnh rằng nó là “chiếc thiết giáp hạm vĩ đại nhất đang hoạt động”[20] vì nó lớn hơn nhiều so với những chiếc thiết giáp hạm Mỹ đương thời: lượng rẽ nước của nó gần gấp ba lần so với chiếc thiết giáp hạm cũ thế hệ Tiền-Dreadnought Oregon (1890), gần gấp hai lần so với chiếc Connecticut (1904), và nặng hơn gần 8.000 tấn so với một trong những chiếc dreadnought đầu tiên, Delaware, chỉ mới được chế tạo bảy năm trước chiếc Nevada.[20]
Nevada là chiếc thiết giáp hạm đầu tiên của Mỹ có tháp pháo ba khẩu pháo,[16][21][22] một ống khói duy nhất,[23] pháo phòng không,[20] và dùng nhiên liệu dầu để cung cấp động năng.[20][24] Đặc biệt, việc sử dụng dầu khiến cho con tàu có ưu thế kỹ thuật so với những chiếc đốt than cũ hơn,[15] vì dầu có hiệu quả hơn than do cung cấp một bán kính hoạt động lớn hơn với cùng một khối lượng nhiên liệu.
Đây là mối quan tâm lớn của Hội đồng Tướng lĩnh Hải quân vào lúc đó. Vào năm 1903, Hội đồng nhận định rằng mọi thiết giáp hạm Mỹ phải có bán kính hoạt động tối thiểu là 9.700 km (6.000 dặm) để Hoa Kỳ có thể thực hiện được Học thuyết Monroe. Một trong những mục đích chính của Hạm đội Great White, từng đi vòng quanh thế giới trong những năm 1907– 1908, là để chứng minh cho Nhật Bản thấy rằng Hải quân Mỹ có thể “mang mọi cuộc đối đầu hải quân đến vùng biển nhà Nhật Bản”.
Có thể do hậu quả của điều này, những thiết giáp hạm sau năm 1908 được thiết kế để “đi được 8.000 dặm ở tốc độ đường trường”; là khoảng cách giữa San Pedro nơi hạm đội đặt căn cứ, và Manila là nơi mà hạm đội dự định phải chiến đấu theo bản Kế hoạch Cận chiến tranh là 6.550 hải lý[25] (12.100 km, 7.500 dặm), tầm hoạt động rõ ràng là mối quan tâm chính của Hải quân Mỹ
.Hơn nữa, nhiên liệu dầu cũng giúp giảm bớt nhân sự cần cho các lò đốt;[28] kỹ sư trên chiếc Delaware đã ước lượng rằng 100 thợ đốt lò (stoker) và 112 người chuyển than có thể được thay bằng 24 người, do đó giảm bớt số khoang cabin trên tàu; giúp giảm tải trọng, giảm lượng nước và tiếp liệu mà con tàu cần mang theo.[29]
Thêm vào đó, Nevada có được lớp vỏ tối đa bên trên các vùng trọng yếu, như hầm đạn và động cơ, và không có vỏ thép trên những nơi không quan trọng, cho dù những thiết giáp hạm trước đây có vỏ giáp với độ dày khác nhau tùy theo tầm quan trọng của vùng nó bảo vệ. Thay đổi tận căn bản này về sau được biết đến như là nguyên tắc “tất cả hoặc không có gì”, mà sau đó được các lực lượng hải quân trên thế giới áp dụng cho thiết giáp hạm của họ.
Với sơ đồ vỏ thép mới được áp dụng, trong lượng của vỏ trên chiếc thiết giáp hạm mới chiếm đến 41,1% tổng lượng rẽ nước.[31]
GHI CHÚ
tổng lượng rẽ nước
Là khối lượng nước mà con tàu chiếm chỗ, có thể được đo bằng mét khối hay cubic-feet (volume of displacement) hoặc bằng tấn (Weight of displacement or displace-ment tonnage).
Trọng lượng rẽ nước (tấn) = Thể tích nước làm tàu chiếm chỗ (m3) x tỷ trọng nước
Kết quả của tất cả các thay đổi trong thiết kế so với những thiết giáp hạm trước đây, Nevada trở thành chiếc đầu tiên của loại thiết giáp hạm được gọi là “Tiêu chuẩn”.[32] Các đặc tính “chuẩn” này là sử dụng dầu đốt, nguyên lý vỏ giáp “tất cả hoặc không có gì”, và sự sắp xếp hỏa lực pháo chính thành bốn tháp pháo đôi hoặc ba mà không có tháp pháo nào ở vị trí giữa tàu.[33]
Hai chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nevada trong thực tế giống như nhau ngoại trừ phần động lực của chúng: Oklahoma được trang bị kiểu động cơ hơi nước kiểu cũ hơn ba buồng bành trướng đặt dọc, trong khi Nevada có động cơ turbine hơi nước Curtis.[1][6][34]
Chế tạo và chạy thử máy
Nevada trong khi đang chạy thử máy vào đầu năm 1916.
Kế hoạch chế tạo Nevada được Quốc Hội thông qua ngày 4 tháng 3 năm 1911. Hợp đồng chế tạo được giao cho Fore River Shipbuilding Company vào ngày 22 tháng 1 năm 1912 với tổng trị giá 5.895.000 Đô la Mỹ[35] (không bao gồm vỏ giáp và vũ khí), và thời gian chế tạo được dự trù lúc ban đầu là 36 tháng.
Một hợp đồng thứ hai được ký kết vào ngày 31 tháng 7 năm 1912 với một khoảng tiền 50.000 Đô la[36] chi phí bổ sung cho bộ hộp số chạy đường trường cho mỗi trục cánh quạt; và hợp đồng này cũng kéo dài thời gian chế tạo thêm năm tháng.[1]
Lườn của nó được đặt vào ngày 4 tháng 11 năm 1912, và đến ngày 12 tháng 8 năm 1914, con tàu được hoàn thành đến 72,4%.[37]
\ Nevada được hạ thủy vào ngày 11 tháng 7 năm 1914 nó được đỡ đầu bởi Eleanor Anne Seibert, cháu gái của Thống đốc tiểu bang Nevada Tasker Oddie và là một hậu duệ của Bộ trưởng Hải quân đầu tiên của Hoa Kỳ Benjamin Stoddert.[2][3]
Buổi lễ hạ thủy có sự tham dự của nhiều quan chức chính phủ nổi bật, bao gồm Thống đốc Oddie, Thống đốc bang Massachusetts David I. Walsh, Nghị sĩ bang Nevada Key Pittman, Bộ trưởng Hải quân Josephus Daniels và Phụ tá Bộ trưởng Franklin D. Roosevelt,[3] người sẽ trở thành Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ.
Sau đó Nevada trải qua nhiều cuộc thử nghiệm và chạy thử máy khác nhau trước khi được cho hoạt động nhằm đáp ứng các điều kiện trong hợp đồng. Chúng được bắt đầu vào ngày 4 tháng 11 năm 1915, khi con tàu thực hiện một chuyến đi kéo dài 12 giờ dọc theo bờ biển New England, đạt được tốc độ tối đa 40 km/h (21,4 knot).[38]
Mặc dù công việc nghiệm thu nó bị gián đoạn vào ngày 5 tháng 11 do một cơn cuồng phong và biển động, chúng được tiếp tục vào ngày 6 bằng thử nghiệm độ tiêu hao nhiên liệu; bao gồm một chuyến đi kéo dài 24 giờ khi Nevada di chuyển ở vận tốc 18 km/h (10 knot).[39]
Kết quả thử nghiệm : lượng dầu tiêu thụ của chiếc tàu chiến thấp hơn 6 pound mỗi knot so với yêu cầu của hợp đồng. Một thử nghiệm khác kéo dài 12 giờ ở tốc độ 28 km/h (15 knot) cho kết quả còn tốt hơn nữa với 10 pound ít hơn cho mỗi knot.[40]
Sau khi hoàn tất mọi thử nghiệm trên và các cuộc chạy thử ngoài khơi Rockland, Maine,[23] Nevada di chuyển đến Xưởng Hải quân Boston và Xưởng Hải quân New York để lắp đặt máy móc, ống phóng ngư lôi và vũ khí.[41] Sau khi mọi sự chuẩn bị hoàn tất,
Nevada được đưa vào hoạt động ngày 11 tháng 3 năm 1916 tại Xưởng hải quân Charlestown, và William S. Sims trở thành thuyền trưởng đầu tiên của con tàu mới.[42]
Lịch sử hoạt động
Thế Chiến I
Phần đuôi chiếc Nevada trong giai đoạn Thế Chiến I.
Sau khi được trang bị tại xưởng hải quân Boston và New York, Nevada gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương tại Newport, Rhode Island vào ngày 26 tháng 5 năm 1916. Trước khi Hoa Kỳ tham gia Thế Chiến I, nó thực hiện nhiều chuyến đi huấn luyện và thực hành tại vùng biển ngoài khơi căn cứ của nó ở Norfolk, Virginia, hướng về phía Nam đến tận vùng biển Caribbe trong những chuyến đi này.[30] Hoa Kỳ chính thức tham chiến vào năm 1917, nhưng chiếc thiết giáp hạm mới không được gửi sang bên kia bờ Đại Tây Dương do hoàn cảnh thiếu nhiên liệu dầu đốt tại Anh.[43]
Thay vào đó, bốn chiếc thiết giáp hạm đốt than (Delaware, Florida, Wyoming và New York) được lệnh rời Hoa Kỳ tham gia Hạm đội Grand Anh Quốc vào ngày 25 tháng 11 năm 1917; chúng đến nơi ngày 7 tháng 12, và được đặt tên là Hải đội Thiết giáp hạm 6 của Hạm đội Grand.Chiếc thiết giáp hạm thứ năm Texas phải được sửa chữa sau khi bị mắc cạn tại đảo Block, khiến phải trì hoãn việc khởi hành của con tàu đến tận ngày 30 tháng 1 năm 1918, và cuối cùng nó đến được Scotland vào ngày 11 tháng 2.[48]
Phải đến tận ngày 13 tháng 8 năm 1918, Nevada mới rời Mỹ sang Anh Quốc,[2] trở thành chiếc tàu chiến Mỹ cuối cùng tham gia hạm đội.[49]
Sau chuyến đi kéo dài mười ngày, nó đến Berehaven, Ireland vào ngày 23 tháng 8.[2] Cùng với chiếc thiết giáp hạm Utah và chiếc Oklahoma cả ba chiếc tàu chiến được gọi tên lóng là “Hải đội vịnh Bantry “;[50] trong khi một cách chính thức đây là Đội Thiết giáp hạm 6 dưới quyền chỉ huy của phó Đô đốc Thomas S. Rodgers, vốn chọn Utah làm soái hạm của mình.[51][52]
Trong giai đoạn còn lại trước khi Thế Chiến I kết thúc, ba chiếc thiết giáp hạm này hoạt động tại vùng biển ngoài khơi cảng, hộ tống các đoàn tàu vận tải lớn và giá trị đi đến quần đảo Anh Quốc nhằm đảm bảo rằng các tàu chiến hạng nặng của Đức không thể lọt qua được đội hình của Hạm đội Grand Anh Quốc để tấn công các tàu buôn vốn chỉ được hộ tống yếu kém bởi các tàu tuần dương cũ. Điều này chưa bao giờ xảy ra, và chiến tranh kết thúc vào ngày 11 tháng 11 mà Nevada chưa có dịp đối mặt cùng đối phương trong chiến tranh.[30]
Trong giai đoạn phục vụ tại phía Đông Đại Tây Dương, Nevada từng thực hiện một chuyến đi tuần tra đến Bắc Hải, nhưng các nguồn dẫn đã không xác định được thời điểm cụ thể.[2][54]
Vào ngày 13 tháng 12, Nevada cùng chín thiết giáp hạm khác và 28 tàu khu trục đã hộ tống chiếc tàu chở khách George Washington cùng Tổng thống Woodrow Wilson đi đến Brest, Pháp trong ngày cuối cùng của chuyến đi tham dự Hội nghị hòa bình Paris. Thoạt đầu kế hoạch dự định cho hạm đội gặp gỡ George Washington và lực lượng hộ tống (chiếc thiết giáp hạm Pennsylvania cùng bốn tàu khu trục) cách bờ biển Brest 2.400 km (1.500 dặm),[55] nhưng sau đó dự tính này được thay đổi; và lực lượng hạm đội gặp gỡ Tổng thống tại một điểm cách Best “một khoảng ngắn” và hộ tống ông vào cảng.
[56] Mười chiếc thiết giáp lên đường quay trở về nhà vào 14 giờ ngày hôm sau, 14 tháng 12.[57] Chúng mất không đầy hai tuần để vượt qua Đại Tây Dương, và về đến New York ngày 26 tháng 12 trong không khí hân hoan của diễn hành và lễ hội ăn mừng việc chiến tranh đã kết thúc.[49]
Những năm giữa hai cuộc thế chiến
Nevada trong ụ tàu tại Trân Châu Cảng, khoảng năm 1935
Giữa hai cuộc thế chiến, Nevada phục vụ cho cả hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.[2] Cho dù ban đầu được trang bị 21 khẩu pháo 127 mm (5″)/51 caliber để phòng thủ chống tàu khu trục đối phương,[24] số pháo này được giảm xuống còn 12 khẩu vào năm 1918[58] do các vị trí phía trước và phía sau bị ướt quá mức.[24]
Cùng với chiếc Arizona, Nevada đại diện cho Hoa Kỳ nhân dịp triển lãm Một trăm năm Peru vào tháng 7 năm 1921.[59]
Một năm sau đó, cùng với chiếc Maryland, nó quay trở lại Nam Mỹ để hộ tống cho chiếc tàu chở khách Pan America cùng với Ngoại trưởng Charles Evans Hughes trên tàu; tất cả cùng tham gia Lễ kỷ niệm Một trăm năm Độc lập Brazil tại Rio de Janeiro diễn ra từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 9 năm 1922.[2][60][61]
Ba năm sau, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1925, Nevada tham gia “chuyến đi thăm viếng của Hạm đội Hoa Kỳ đến Australia và New Zealand. Trong chuyến đi này, những con tàu chỉ có được những dịp tiếp tế hạn chế nhưng cũng thực hiện được chuyến đi đến tận Australia và quay về mà không bị trễ hạn.[62] Điều này đã chứng tỏ cho các nước đồng minh và Nhật Bản khả năng của Hải quân Hoa Kỳ có thể thực hiện các chiến dịch vượt qua Thái Bình Dương[2] và đối đầu cùng Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay tại vùng biển nhà của họ,[62] nơi mà cả người Nhật lẫn kế hoạch chiến tranh của Hoa Kỳ đều dự đoán rằng “trận chiến quyết định”, nếu có, sẽ diễn ra.[63]
Sau chuyến đi, Nevada được tân trang tại xưởng hải quân Norfolk từ tháng 8 năm 1927 đến tháng 1 năm 1930, thay đổi kiểu cột buồm dạng “giỏ” thành kiểu cột buồm dạng “ba chân”[64] và các turbine hơi nước được thay thế từ chiếc thiết giáp hạm North Dakota vốn vừa được gạch tên khỏi Danh sách Đăng bạ
.[21] Ngoài ra, nhiều thay đổi và bổ sung khác nhau cũng được thực hiện: các khẩu pháo chính của nó có góc nâng được tăng lên đến 30 độ cho phép tăng tầm bắn từ 21 km (23.000 yard) lên 31 km (34.000 yard), đai giáp chống ngư lôi được tăng cường trong khi sáu nồi hơi được bố trí lại để dành chỗ cho các đai giáp này, hai máy phóng được bổ sung dành cho ba chiếc máy bay trinh sát cánh kép Vought O2U-3 Corsair,[65] tám khẩu 127 mm (5″)/25 caliber được bổ sung,[58] một thiết kế cấu trúc thượng tầng mới được trang bị, và dàn pháo hạng hai 5″/51 caliber của nó được bố trí lại[64] tương tự như kiểu sắp xếp trên lớp thiết giáp hạm mới New Mexico.[65] Sau đó Nevada phục vụ trong Hạm đội Thái Bình Dương trong mười một năm tiếp theo sau.[64]
Tấn công Trân Châu Cảng
Sơ đồ vị trí các con tàu và các cơ sở của Trân Châu Cảng trong cuộc tấn công.
Vào dịp cuối tuần 6–7 tháng 12, tất cả các thiết giáp hạm của Hạm đội Thái Bình Dương đều buông neo trong cảng lần đầu tiên kể từ ngày 4 tháng 7. Thông thường chúng được “luân phiên” nhau nghỉ ngơi trong cảng: sáu chiếc sẽ ra khơi cùng với lực lượng đặc nhiệm thiết giáp hạm của Phó Đô đốc William S. Pye, trong khi vào tuần lễ kế tiếp sẽ đến lượt lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm của Phó Đô đốc William Halsey, Jr.
. Tuy nhiên, vì Halsey không thể cho những chiếc thiết giáp hạm tốc độ chậm chạp 31,5 km/h (17 knot)[66] đi cùng những hkmh của ông với tốc độ 55,5 km/h (30 knot) [66] trong chuyến đi tăng cường thêm máy bay xung kích cho lực lượng Thủy quân Lục chiến trên đảo Wake Island; trong khi đến lượt lực lượng của Pye được nghỉ ngơi trong cảng, nơi “được coi là an toàn”, nên tất cả các thiết giáp hạm đều buông neo vào buổi sáng hôm đó.[67]
Khi mặt trời đã nhô lên bên trên chiếc Nevada và dàn nhạc của con tàu đang cử bài “Morning Colors”, thì những chiếc máy bay đã xuất hiện ở chân trời, mở màn cho trận tấn công Trân Châu Cảng.[68]
Neo đậu về phía đuôi chiếc Arizona, và đứng riêng lẽ một mình dọc theo đảo Ford không cặp chung với bất kỳ chiếc thiết giáp hạm nào khác, nên khác với bảy chiếc kia, Nevada đã có thể cơ động để thoát ra khỏi cảng.[2][69]
Khi các xạ thủ phòng không nổ súng và các kỹ sư bắt đầu nâng áp lực hơi nước, một quả ngư lôi Kiểu 91 46 cm (18 in) duy nhất[10] phát nổ ở khung số 41 khoảng 14 feet bên trên lườn vào lúc 08 giờ 10 phút.[70] Đai giáp chống ngư lôi đã chịu đựng được, nhưng các vết rò rỉ qua các chỗ nối đã gây ngập khiến con tàu nghiêng từ 4 đến 5 độ.[70]
Nevada chỉnh lại độ nghiêng của con tàu bằng cách cho ngập các ngăn đối xứng và bắt đầu khởi hành lúc 8 giờ 40 phút,[70] và đến lúc đó xạ thủ phòng không trên chiếc Nevada đã bắn rơi được bốn máy bay đối phương.[71]
Khi nó đi ngang cầu tàu Ten-Ten[72] lúc khoảng 09 giờ 50 phút, Nevada bị đánh trúng năm quả bom. Một quả bom phát nổ bên trên bếp dành cho thủy thủ đoàn ở khung 80; một quả khác đánh trúng mạn trái và phát nổ ở sàn bên trên; thêm một quả bom nữa đánh trúng gần tháp pháo số 1 gây thủng những lổ lớn ở sàn bên trên và sàn chính. Hai quả bom đánh trúng tháp chỉ huy phía trước gần ngăn số 15; một quả xuyên ra ngoài qua hông sàn tàu thứ hai trước khi phát nổ, nhưng quả thứ hai phát nổ bên trong tàu gần các thùng chứa xăng; sự rò rỉ và hơi xăng từ thùng này đã gây ra các đám cháy dữ dội quanh con tàu.[70]
Các đám cháy xăng bùng phát chung quanh tháp súng số 1 có thể đã gây ra những hư hại nghiêm trọng nếu như các hầm pháo chính không trống rỗng. Nhiều ngày trước khi cuộc tấn công diễn ra, tất cả các khẩu đội pháo 356 mm (14 inch) trên những chiếc thiết giáp hạm được thay thế những đầu đạn tiêu chuẩn bởi những đầu đạn nặng hơn, cho phép có độ đâm xuyên tốt hơn và chứa một lượng thuốc nổ lớn hơn, đánh đổi với việc có tầm bắn bị giảm đi đôi chút. Tất cả các đầu đạn và thuốc nổ cũ được dỡ bỏ khỏi các hầm đạn trên chiếc Nevada, và thủy thủ đoàn đang dừng nghỉ sau khi chất nạp xong kiểu đầu đạn mới trước khi tiếp tục nạp thuốc nổ trong ngày Chủ nhật hôm đó.[73]
Nevada mắc cạn và bốc cháy tại Hospital Point
Khi những hư hại do bom đã trở nên rõ ràng, Nevada được lệnh hướng đến phía Tây đảo Ford để tránh việc bị đánh chìm ngay trên luồng tàu sẽ khiến nó “trở nên một cái nút thắt chặt phần còn lại của hạm đội trong cái chai.”[74] Thay vì vậy, nó được cho mắc cạn tại Hospital Point lúc 10 giờ 30 phút,[75] dưới sự giúp đỡ của chiếc Hoga và chiếc Avocet,[76] cho dù nó đã xoay sở bắn hạ được thêm ba máy bay đối phương trước khi mắc cạn.[71]
Chỉ trong buổi sáng hôm đó, Nevada bị tổn thất với 60 người thiệt mạng và 109 người khác bị thương.[2] Thêm hai người nữa thiệt mạng trên tàu trong chiến dịch trục vớt nó vào ngày 7 tháng 2 năm 1942 khi họ bị ngộ độc khí hydrogen sulfide thoát ra từ giấy và thịt bị phân hủy.[77]
Con tàu chịu đựng ít nhất sáu quả bom và một quả ngư lôi, “có thể con tàu đã bị đánh trúng đến mười quả bom, [...] vì một số hư hại có kích thước lớn đến mức có thể cho là nơi đó bị đánh trúng nhiều hơn một quả bom.”[71]
Attu và ngày D tại Normandy
Hư hại do một trong những quả bom đã đánh trúng Nevada trong trận tấn công Trân Châu Cảng
Nevada yểm trợ cho cuộc đổ bộ lên bãi biển Utah, ngày 6 tháng 6 năm 1944.
Nevada nổi trở lại vào ngày 12 tháng 2 năm 1942 và được cho sửa chữa tạm thời tại Trân Châu Cảng để có thể quay về xưởng hải quân Puget Sound cho một cuộc đại tu toàn bộ.[78] Cuộc đại tu này kéo dài cho đến hết năm 1942, và nó thay đổi diện mạo của chiếc thiết giáp hạm cũ trông gần giống những chiếc thuộc lớp
South Dakota.[79] Các khẩu pháo 127 mm (5″/51 và 5″/25) được thay thế bằng 16 khẩu pháo 127 mm (5″)/38 caliber bố trí trên những tháp súng đôi.[58] Sau đó Nevada khởi hành đi Alaska, nơi nó thực hiện bắn phá yểm trợ từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 5 năm 1942 để chiếm đóng Attu.[2]
Nevada sau đó khởi hành hướng đến xưởng hải quân Norfolk trong tháng 6 nơi nó tiếp ṭục được hiện đại hóa.[2] Sau khi hoàn tất, Nevada thực hiện vai trò hộ tống vận tải tại Đại Tây Dương.[80] Những chiếc thiết giáp hạm cũ như chiếc Nevada được phân phối cho nhiều đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương để bảo vệ chúng khỏi bị các tàu chiến Đức có thể mạo hiểm ra khơi tấn công.
Một trong các đoàn tàu vận tải được Nevada bảo vệ là đoàn tàu UT-2, bao gồm 20 tàu vận tải và tàu chở quân được hộ tống bởi 9 tàu khu trục, 4 tàu quét mìn nhanh và 1 tàu khu trục hộ tống cùng Nevada, tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Carleton F. Bryant, người đã chọn Nevada làm kỳ hạm của mình.
Sau khi rời New York ngày 5 tháng 9, họ hướng về eo biển Bắc; không có sự tiếp xúc nào đối với lực lượng đối phương, và những con tàu hoàn tất hành trình sau mười ngày. Số tàu trên quay trở về Hoa Kỳ vào cuối tháng 9 dưới tên gọi đoàn tàu TU-2.[81]
Sau khi hoàn tất thêm nhiều chuyến hộ tống vận tải, Nevada đi đến Anh Quốc vào tháng 4 năm 1944 nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ Normandy. Nó được chọn làm kỳ hạm cho Chuẩn Đô đốc Morton Deyo trong chiến dịch này.[82] Trong cuộc đổ bộ, Nevada bắn pháo hỗ trợ cho các lực lượng trên bờ từ ngày 6 đến ngày 17 tháng 6, và một lần nữa vào ngày 25 tháng 6; trong giai đoạn này, nó tác xạ vào các vị trí phòng thủ cố định trên bán đảo Cherbourg.[2][83] Các quả đạn của nó bắn xa đến 27 km (17 dặm) vào sâu trong đất liền để phá vỡ các cuộc tập trung quân và phản công của Đức, nó bị phản pháo 27 lần (cho dù không trúng).[2] Nevada sau đó được tán dương do hỏa lực có “độ chính xác lạ lùng” khi yểm trợ các lực lượng bị bao vây, bởi một số mục tiêu mà nó bắn trúng chỉ cách tiền duyên của quân Đồng Minh 550 m (600 yard).[84] Nevada là chiếc tàu chiến duy nhất hiện diện trong cả hai trận Trân Châu Cảng và đổ bộ Normandy.[85][86]
Miền Nam nước Pháp và Iwo Jima
Sau ngày D, lực lượng Đồng Minh hướng đến Toulon cho một cuộc tấn công đổ bộ thứ hai mang mật danh Chiến dịch Dragoon. Để yểm trợ cho chiến dịch này, nhiều tàu chiến được gửi từ các bãi biển Normandy đến Địa Trung Hải; bao gồm năm thiết giáp hạm: Nevada, Texas, Arkansas của Hoa Kỳ,
Ramillies của Anh Quốc và
Lorraine của nước Pháp Tự Do; ba tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ :Augusta Tuscaloosa và Quincy cùng nhiều tàu khu trục và tàu đổ bộ được gửi về hướng nam.[87]
Nevada hỗ trợ cho chiến dịch này từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 25 tháng 9 năm 1944, đấu pháo “tay đôi”[2] cùng “Big Willie”: một pháo đài được tăng cường đáng kể bằng bốn khẩu pháo 340 mm/45 Modèle 1912 bố trí trên hai tháp pháo đôi. Những khẩu pháo này được vớt lên từ chiếc thiết giáp hạm Pháp Provence sau khi hạm đội Pháp bị đánh đắm tại Toulon; những khẩu pháo này có tầm bắn xa đến 35 km (22 dặm) và chúng kiểm soát mọi ngả đường đi đến cảng Toulon
. Thêm nữa, chúng còn được củng cố bằng các tấm giáp dày dựng vào sườn núi đảo Saint Mandrier. Do những mối nguy hiểm này, các con tàu yểm trợ hỏa lực trong chiến dịch này được lệnh phải san bằng pháo đài này.[88] Bắt đầu từ ngày 19 tháng 8 và được tiếp tục trong suốt những ngày tiếp theo sau, một hoặc nhiều chiếc tàu chiến hạng nặng nả pháo vào nó kết hợp cùng không kích ném bom tầm thấp.
Sang ngày 23 tháng 8, lực lượng bắn phá do Nevada dẫn đầu đã tác xạ vào pháo đài trong suốt sáu giờ rưỡi bắn phá, khi Nevada nả đến 354 loạt đạn. Toulon thất thủ vào ngày 25 tháng 8, nhưng pháo đài cầm cự được thêm ba ngày nữa.[89]
Nevada bắn phá Iwo Jima, ngày 19 tháng 2 năm 1945.
Sau đó Nevada lên đường hướng về New York để bảo trì các khẩu pháo của nó.[2] Ngoài ra, các khẩu pháo 356 mm/45 caliber trên tháp pháo số 1 được thay thế bằng pháo Mark 8 tháo dỡ từ tháp pháo số 2 của chiếc Arizona; những khẩu pháo mới này được nâng cấp theo tiêu chuẩn Mark 12.[90][91] Sau khi hoàn tất, nó khởi hành đi Thái Bình Dương và đi đến
Iwo Jima ngày 16 tháng 2 năm 1945[2] chuẩn bị cho việc bắn phá yểm trợ cuộc chiếm đóng hòn đảo này.[92] Nó thực hiện nhiệm vụ nói trên cho đến tận ngày 7 tháng 3,[2] và trong khi nả pháo, nó tiến đến gần sát hòn đảo ở khoảng cách 550 m (600 yard) để cung cấp hỏa lực tối đa cho lực lượng trên bộ tấn công.[84]
Okinawa và Nhật Bản
Ngày 24 tháng 3 năm 1945, Nevada gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 54 (TF 54) ngoài khơi Okinawa nhằm bắn phá chuẩn bị cho việc tấn công chiếm đóng hòn đảo này. Các tàu chiến của Lực lượng Đặc nhiệm TF 54 di chuyển vào vị trí xuất phát trong đêm 23 tháng 3 để bắt đầu thực hiện nhiệm vụ bắn phá vào rạng sáng ngày 24.[93]
Cùng với các lực lượng khác, Nevada nả pháo vào các sân bay, kho dự trữ, các công trình phòng ngự và các điểm tập trung quân lính của Nhật Bản.[2] Tuy nhiên, sau khi rút lui và nghỉ ngơi vào ban đêm, rạng sáng ngày hôm sau “mở ra như sấm chớp” khi bảy chiếc máy bay tấn công cảm tử kamikaze tấn công vào lực lượng đặc nhiệm trong khi nó không được bảo vệ từ trên không.
Một máy bay kamikaze, đã bị súng phòng không bắn trúng liên tục, vẫn bổ nhào lên sàn tàu chính của chiếc Nevada bên cạnh tháp súng số 3, giết chết 11 người và làm bị thương 49 người khác; nó cũng phá hủy cả hai khẩu pháo 356 mm (14″) của tháp súng này và ba khẩu đội súng phòng không 20 mm.[94]
Hai người khác bị thiệt mạng vì hỏa lực của một khẩu đội pháo duyên hải trên bờ bắn trúng vào ngày 5 tháng 4. Cho đến ngày 30 tháng 6, nó vẫn thường trực ngoài khơi Okinawa; rồi sau đó nó được chuyển sang Đệ Tam hạm đội từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 7 tháng 8, đưa Nevada tiến sát đến tầm bắn vào các đảo chính quốc Nhật Bản trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tuy nhiên nó đã không tham gia vào việc bắn phá các đảo chính quốc Nhật Bản.[2][95]
Sau chiến tranh
Một bức tranh màu nước của Hải quân Mỹ do Arthur Beaumont vẽ trên cầu tàu chiếc Arkansas sau thử nghiệm “Able”; chiếc tàu màu cam là Nevada.
Nevada quay về Trân Châu Cảng sau một giai đoạn ngắn hỗ trợ việc chiếm đóng Nhật bản trong vịnh Tokyo. Sau đó Nevada được khảo sát đánh giá, và với tuổi đời lên đến trên 32 năm, nó được xem là quá cũ để được giữ lại trong hạm đội sau chiến tranh.[4][64] Kết quả là nó được chọn làm tàu mục tiêu cho cuộc thử nghiệm nguyên tử Bikini (Chiến dịch Crossroads) vào tháng 7 năm 1946.[2]
Thử nghiệm này bao gồm việc cho nổ hai quả bom nguyên tử để khảo sát hiệu quả của chúng trên các con tàu chiến.[96] Nevada được chỉ định làm “tọa độ chết”[97] cho thử nghiệm thứ nhất mang tên mã ‘Able’, sử dụng một vũ khí ném từ máy bay, và do đó nó được sơn một “màu vàng cam xấu xí”[98] nhằm giúp cho hoa tiêu có thể ngắm mục tiêu dễ dàng. Tuy nhiên, ngay cả với màu sắc tương phản rõ ràng, quả bom vẫn bị ném chệch mục tiêu đến 1.500 m (1.700 yard) và phát nổ bên trên chiếc hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Independence
.[98] Nevada cũng chịu đựng được cả thử nghiệm bom nguyên tử thứ hai mang tên mã ‘Baker’, một vụ nổ sâu dưới mặt nước 27 m (90 ft), nhưng nó bị hư hỏng và nhiễm xạ rất nặng.[64] Nevada sau đó được kéo về Trân Châu Cảng và được cho ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 8 năm 1946.[2]
Sau khi được khảo sát cẩn thận tại Trân Châu Cảng, chuyến đi cuối cùng của nó là vào ngày 31 tháng 7 năm 1948, khi thiết giáp hạm Iowa cùng hai tàu chiến khác[99] sử dụng chiếc Nevada như một mục tiêu để thực hành tác xạ.
Ba chiếc tàu chiến đã không thể đánh chìm chiếc Nevada, nên nó được ban một phát ân huệ cuối cùng là một quả ngư lôi phóng từ máy bay đánh trúng phía giữa tàu. Nevada chìm ở vị trí 97–105 km (60–65 dặm)[98] về phía Tây Nam Trân Châu Cảng.[
XEM VIDEO
THIẾT GIÁP HẠM USS NEVADA
BKTT
>> Xem Tiếp!
Huyền Thoại và Thực Chất Của Một Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt
Ngày 12 tháng 9 năm 2009 tới đây, một diễn đàn công luận sẽ được tổ chức để lấy ý kiến của cư dân thành phố San Jose về sinh hoạt của một Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt, tiếng Mỹ là The Vietnamese-American Community Center, viết tắt là VACC.
Ðã từ hơn năm năm qua, Người Mỹ Gốc Việt ước mong có một Trung Tâm Cộng Ðồng để hội họp, để sinh hoạt và đặc biệt là để tổ chức kỷ niệm các biến cố lịch sử lớn của dân tộc Việt Nam, nhằm mục đích duy trì và phát huy bản sắc văn hóa Việt, nhắc nhở cho các thế hệ sinh ra và lớn lên trên đất khách biết về cội nguồn, về một tổ quốc thân yêu bên kia bờ Thái Bình Dương, là nơi quê cha đất tổ. Các ngày lễ hội văn hóa truyền thống và lịch sử Việt Nam cũng còn có tác dụng nói lên cho các thế hệ thứ 2, thứ 3 ... biết rằng họ cũng có một quê hương (một homeland như mọi sắc dân khác) nhưng họ không được yêu!
Tại sao “Cũng có Quê Hương mà không được yêu”? Ðó là vì những người đang cai trị trên cái quê hương đó quy định rằng “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”! Thế là cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bị cấm yêu quê hương!
Cộng đồng người Việt Tỵ Nạn Cộng sản đã định cư tại Bắc California, Hoa Kỳ hơn ba thập niên. San Jose là thành phố đứng thứ hai về dân số gốc Việt, sau Orange County ở Nam California. Cư dân gốc Việt tại đây đã đóng góp khá nhiều vào sự phát triển và phồn thịnh của thành phố, nhưng từ bao nhiêu năm, ước mơ về một Trung Tâm Cộng Ðồng vẫn chưa thành hiện thực.
Ðã có một số dự án về Kỳ Ðài, Về Công Viên Văn Hóa Việt, rồi Vườn Truyền Thống Văn Hóa do một số đoàn thể, hoặc một nhóm nhỏ đứng ra vận động, hô hào, từ thập niên 1990. Chính quyền Thành Phố San Jose đã hào hiệp và sốt sắng cấp đất và yểm trợ công cuộc xây dựng...
Nhưng buồn thay, sau hai lần thất bại, khu đất xây dựng Vườn Truyền Thống Việt Nam được cấp lần thứ ba, đã làm lễ động thổ, đặt viên đá đầu tiên, đã hứa hẹn một ngày khánh thành... Thế nhưng đã ba năm qua, sau ngày động thổ, Vườn Truyền Thống Việt Nam tại San Jose vẫn chỉ là một khu đất hoang đầy các loài cỏ dại với hai lá cờ Việt-Mỹ rách nát và xác xơ.
Năm 2004, Hội Ðồng Thành Phố San Jose cũng đã dành cho cộng đồng Người Mỹ gốc Việt một ngân khoản gần ba triệu Mỹ kim để xây dựng một Trung Tâm Cộng Ðồng. Một nghị viên gốc Việt trong Hội Ðồng Thành Phố đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ để kể công với cử tri gốc Việt với huyền thoại là chính nhờ bà ta mới có ngân khoản hai triệu tám trăm ngàn cho một Trung Tâm Cộng Ðồng.
Nhiều đồng hương người Việt lấy làm vui mừng vì nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ có một nơi để đến sinh họat, hội họp. Nhiều người nghĩ rằng cái Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt ấy sẽ là của riêng Cộng Ðồng Người Việt, tha hồ mà lui tới, tha hồ tổ chức các sinh hoạt.
Nhưng đó chỉ là huyền thoại. Bởi vì, khi chính quyền cấp tiền lấy từ ngân sách của thành phố, nói là để xây dựng một trung tâm sinh hoạt cộng đồng, thì không phải dành riêng cho một sắc dân mà thôi.
Thật vậy, theo chính sách và truyền thống của Thành Phố, các Trung Tâm Cộng Ðồng của Thành Phố đều là đa văn hóa, nghĩa là bao gồm nhiều sinh hoạt văn hóa của các sắc dân khác nhau như: Phi-Luật-Tân, Mễ-Tây-Cơ, Ấn-Ðộ, Lào, Trung-Hoa, Việt-Nam vân vân.
Do đó, cái gọi là Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt, cũng nằm trong phương thức sinh hoạt đa văn hóa, cộng đồng Việt Nam sẽ chỉ có một số ngày sinh hoạt chính thức tối thiểu, tại Trung Tâm này mà thôi, chẳng hạn: ngày Tết Truyền Thống, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư vân vân. Ngoài những ngày đặc biệt ấy, cộng đồng Việt Nam muốn có những sinh hoạt khác, thì phải ghi danh theo thứ tự trước, sau, nếu còn chỗ mới có thể đến sinh hoạt được.
Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt được Thành Phố cấp ngân khoản thành lập, khi đã xây dựng xong xuôi, chính quyền Thành Phố sẽ lo việc quản trị hành chánh. Nó sẽ không thuộc về cư dân một khu vực nào cả, mà là của chung thành phố. Mọi cư dân đều được đóng góp ý kiến về việc hoạch định các chương trình sinh hoạt và đề nghị các dịch vụ liên quan đến phúc lợi của mọi cư dân. Không một cá nhân nào, một giới chức dân cử nào có thể tự hào là người đã sáng lập ra Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt. Nói trắng ra, trong Hội Ðồng Thành Phố có một nghị viên gốc Việt, nên các nghị viên sắc tộc khác nghĩ rằng trao Dự Án Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt cho nghị viên đó là hợp tình hợp lý hơn mà thôi.
Do đó, việc một cá nhân tùy tiện sử dụng ngân sách do thành phố cấp cho Dự Án Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt, đem số tiền lớn ấy đi mua một Trung Tâm sinh hoạt đã cũ, sắp bị phế thải để phải sửa chữa và tân trang lại, thì thật là thiếu trách nhiệm, gây ra thêm nhiều tốn kém, thay vì đi mua một cơ sở mới.
Ðể tránh sự lạm dụng danh nghĩa và sự tùy tiện của một số cá nhân đối với Dự Án Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt, thì Lực Lượng Ðặc Nhiệm có nhiệm vụ triệu tập các cư dân, các đoàn thể cộng đồng, các nhân sĩ đến tham dự diễn đàn để thu thập ý kiến đóng góp cho việc hoạch định các chương trình sinh hoạt.
Vậy đồng hương nên dành thì giờ đến tham gia đông đảo để sự đóng góp ý kiến thêm phong phú.
Ðịa điểm của Diễn Ðàn Công Luận là Phòng Tập Thể Dục của trường Trung Học Yerba Buena, số 1855 Lucretia Avenue, San Jose. Ngày thứ Bảy, 12-9-2009, từ lúc 8 giờ sáng đến 12:30 trưa.
Ðồng hương hãy đến để góp ý kiến và tiếng nói của mình về tương lai của một Trung Tâm Cộng Ðồng Người Mỹ Gốc Việt.
Hãy đến để tìm hiểu thêm về sinh hoạt của một Trung Tâm Cộng Ðồng. Khi đã có sự hiểu biết cụ thể về thực chất một trung tâm sinh hoạt cộng đồng, về chính sách của Hội Ðồng thành phố đối với tập thể các cư dân, thì huyền thoại về công lao của một cá nhân sẽ lập tức tan biến đi.
Nguyễn Châu
>> Xem Tiếp!
LÚA VÀ CỎ LÙNG
Trong Thánh kinh Tân Ước của đạo Công Giáo có một dụ ngôn nói rằng: “Một người chủ gieo vào ruộng mình những hạt giống lúa, nhưng ban đêm, kẻ thù của ông ta đã gieo vào đó hạt giống của cỏ lùng. Khi cả 2 cùng mọc, đầy tớ đến trình với ông chủ: kẻ gian đã gieo cỏ lùng vào ruộng, ông chủ có muốn chúng tôi nhổ hết cỏ lùng không? Ông chủ trả lời: không, cứ để cho cả 2 mọc, cho đến mùa, chúng ta gặt lúa cho vào kho lẫm, còn cỏ lùng thì cho vào lửa đốt sạch”. Ai đã làm nông đều biết nông gia thường “làm cỏ” 2 lần trong một mùa lúa. Vì nếu để cỏ và lúa mọc chung, cỏ sẽ lấn lúa và mùa gặt không có kết quả tốt, có nhiều khi không thể gặt được, vì lúa gần như biến mất. Nhưng trong dụ ngôn này, Đức Giê Su có ý nói Thiên Chúa để người lương thiện sống chung với người hung dử cho đến khi mãn đời, những ai lương thiện sẽ được “vào kho lẫm” tức vào Thiên Đàng. Còn những kẻ độc ác sẽ bị lửa thiêu đốt
Kẻ viết bài này không cố ý truyền đạo, vì chủ đích của chương trình phát thanh này dành để nêu cao chính nghĩa Quốc Gia chống Cộng. Nhưng nhận thấy đoạn dụ ngôn này rất phù hợp với thời sự hiện tại ở Bắc Cali, nên mượn dụ ngôn này để làm sáng tỏ những vấn đề tại sao người quốc gia chống Cộng để những cán bộ Việt Cộng, tay sai, hay những tên a dua, chạy theo binh vực Việt Cộng sống chung với mình, có khi cùng “chống Cộng” nữa. Dụ ngôn này cũng cắt nghĩa tại sao “ông Trời” không vặn họng những tên Việt Cộng ác ôn, để nó làm khỗ dân, hay “tại sao ông Trời không cho những kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma VC”, tuyên truyền cho bọn vô thần, đày đọa người lương thiện, bóc lột người cô thế. Sao ông Trời không cho chúng trẹo quai hàm để chúng hết nói láo. Nếu ông trời làm như vậy thì không phải ông Trời. Vì ông Trời thương hết mọi người, hy vọng một ngày nào đó chúng sẽ ăn năn cái tội phản dân hại nước của chúng, cái tội vì một ít đồng tiền máu của Việt Cộng mà phản bội đồng bào, phản bội quê hương.
Kẻ viết bài này cũng xin mượn dụ ngôn lúa và cỏ lùng để thưa chuyện với đồng hương hôm nay, và cũng để giải đáp những thắc mắc mà đồng hương đã nêu lên nhiều lần: tại sao những tên làm tay sai cho Việt Cộng mà chúng ta lại để cho chúng tham gia việc này, việc nọ để chúng thu thập tin tức rồi phản bội chúng ta? Tại sao có những lời nói, việc làm rõ ràng là có lợi cho Việt Cộng, đứa con nít cũng hiểu, cũng biết mà những kẻ bô bô cái miệng “chống Cộng” lại vẫn cứ ủng hộ chúng? V.v.. và v.v... Có rất nhiều cái tại sao ở trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại nói chung và tại Bắc Cali nói riêng cần giải đáp lắm.
Việt Cộng chủ trương giết lầm, bắt lầm hơn tha lầm, người quốc gia trái lại, thà tha lầm hơn là bắt lầm. Thà để cỏ lùng mọc chung với lúa chứ khi chưa có chứng cớ gì mà ghép họ vào loại “cỏ” thì đó không phải chủ trương của người Quốc Gia. Ngoài ra, công việc cộng đồng chống Cộng là công việc chung, ai là người Việt Nam đều có quyền tham gia, khi nào họ còn làm lợi cho quốc gia, cho người chống Cộng thì chúng ta để họ làm, nhiều khi phải giúp đỡ họ trong công tác chống Cộng, nhưng một khi họ trở cờ, đón gió, phản bội đồng hương chống Cộng, chúng ta vạch mặt họ ra cho mọi người biết.
Trước đây, cả Bắc Cali này ai chống Cộng đều tích cực ủng hộ một cơ quan truyền thông tại San Jose, coi cơ quan này như là “cơ quan chống Cộng của mình” nghĩa là ủng hộ tối đa. Nhưng khi cơ quan truyền thông này có những hành động đi ngược lại 100% với công cuộc chống Cộng thì chúng ta cạch mặt họ ra. Chỉ cho mọi người thấy hành động của họ sai trái với chính nghĩa chống Cộng, để đồng hương thấy rõ bộ mặt thật của họ, nhưng mặt khác, cũng hy vọng giúp họ tỉnh ngộ mà trở về với chính nghĩa Quốc gia. Quý vị thính giả chắc còn nhớ Đệ Nhất Cộng Hòa và Đệ Nhị Cộng Hòa đều chủ trương chiêu hồi Việt Cộng. Kết quả là có hơn 200 ngàn tay súng VC đã bỏ hàng ngũ của chúng đê về hợp tác với người Quốc gia. Việt Cộng thì không. Có nhiều kẻ chúng tôi biết chẳng hay ho, thơm tho gì mà chúng giúp đồng hưong chống Cộng trong những công tác vừa qua, nhưng “cứ để cỏ lùng mọc chung với lúa” chúng tôi chỉ đề phòng. Nếu chúng thành tâm chiêu hồi, ăn năn trở lại với hàng ngũ Quốc Gia chống Cộng thì tốt, bằng không thì khi nào chúng trổ mòi “lúa” ra; lúc đó hẳn hay. Đó là đường lối của người Quốc Gia chống Cộng.
Việt Nam ta có câu: “con ruồi bay qua, người ta cũng biết đó là ruồi đực hay ruồi cái” Đây cũng là cách nói dụ ngôn, vì không có con mắt nào mà tài tình như vậy, nhưng câu nói này chứng tỏ những kẻ gian khó mà dối bá tánh được. Dĩ nhiên là những kẻ gian cũng cố gắng che đậy hành động của chúng lắm, nhưng làm sao mà che dấu được mãi. Trong một bài phiếm đăng trên mục Cuộc Hý Trường của báo Tiếng Dân trước đây, tôi đã có một bài với tựa đề: “Từ Từ Bò Ra”, trong đó, tôi vạch mặt những kẻ giả danh chống Cộng mà ủng hộ VC, nhưng vì những hành động của chúng, vì nhu cầu “của mấy anh lớn VC bên nhà” của chúng, chúng phải lộ cái bộ mặt thật của chúng ra.
Trên tờ San Jose Mercury News phát hành ngày 12 tháng 2 năm 2009, ở trang 15A, có bài viết của ký giả Joshua Molina nhan đề “Why Madison opposes “Little Saigon”? có câu: “She said a silent majority of business owners and the others in the district dislike name, with its anticommunist connotation, but she was never able to buid community support for her idea”. tạm dịch: “Lý do tại sao Madison chống cái tên Little Saigon”: Cô ấy nói rằng đa số thầm lặng chủ nhân thương mại và những người khác trong khu vực không thích cái tên ấy vì nó có nghĩa chống Cộng, nhưng cô ta không bao giờ vận động được cộng đồng yễm trợ cho ý đồ của cô”.
Tại sao ký giả Molina lai thêm câu “nhưng cô ta không bao giờ vận động được sự ủng hộ của cộng đồng”? Tại vì có ít nhất là 3 cuộc thăm do dư luận, trong đó đặc biệt là cuộc thăm dò của Ủy Ban Tái Phát Triển Thành Phố chứng tỏ rằng “những thương nhân thầm lặng cũng như những người khác đều thích tên Little Saigon”. Nói cách khác, cô Madison đã nói láo. Nó cũng có nghĩa là Madison không thích chống Cộng và không thích người chống Cộng. Câu nói này phát xuất từ một nghị viên rất có lợi cho VC. Thế thì những cá nhân, đoàn thể, nhất là cơ quan truyền thông tự cho mình chống Cộng mà vẫn ủng hộ cô này có phải họ cùng lập trường “ch1ông người chống Cộng” với Madison không? Điều này cũng cho mọi người thấy rõ họ có chống Cộng hay không?
Qua chứng minh trên chúng ta thấy rõ chính những kẻ cho mình chống Cộng mà ủng hộ Madison là nói láo. “Ban đêm, khi ông chủ ngũ, kẻ thù đã đem giống cỏ gieo vào ruộng lúa”. Gia nhân của ông chủ trong dụ ngôn đề nghị nhổ cỏ đi, nhưng ông chủ muốn để cho cả 2 cùng sống cho đến khi kết cuộc.
Chúng ta, những người Việt tị nạn Cộng Sản ở Bắc Cali này đã thấy rõ ai là lúa, ai là cỏ lùng, hay nói cách khác, ai chống Cộng thật và ai chống Cộng cuội. Nhưng giải pháp của chúng ta không phải đem cỏ lùng đốt đi, nhưng vạch mặt thân Cộng của chúng cho mọi người biết và bất hợp tác với chúng. Nếu trước đây chúng ta ủng hộ chúng, hợp tác với chúng vì chúng chống Cộng thật bao nhiêu, thì nay chúng ta phải cạch mặt chúng ra, nói cho những ai chưa biết hành động chống Cộng cuội của chúng biết để họ đề phòng và cạch mặt chúng.
Kiêm Ái
>> Xem Tiếp!
Tự hào dân tộc!
Người Việt thường tự hào mình là một dân tộc có trên “Bốn Ngàn Năm Văn Hiến”. Nhưng, hỏi văn hiến là gì? Thì hầu như nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ không tránh khỏi sự lúng túng khi giải thích về hai chữ này. Vì vậy, ý niệm về văn hiến chỉ là sáo ngữ và trở thành một thứ thông điệp là “nói để mà nói”. Người ta lúng túng có hai lý do. Thứ nhứt, vì không chịu tìm hiểu. Thứ hai, vì ý nghĩa của nó quá bao la, bát ngát. Vậy văn hiến là gì, nội dung ra sao?
Nếu văn hóa và văn minh có nguồn gốc từ phương Tây. Thì tại phương Đông khái niệm về văn hiến được nhắc nhở đến tại Trung Hoa và Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, hai chữ văn hiến thường được nói đến từ khi xuất hiện trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vào năm 1428 qua hai câu:
Như nước Ðại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Theo Chu Hy đời Tống, Trung Hoa giải thích thì văn là “điển tịch dã”. Còn hiến là “hiền dã”. Tức văn chỉ về “khuôn phép, trước tác, sách vở”. Còn hiến chỉ về những “nhân vật hiền tài”. Như vậy, văn hiến là văn hoá, sáng tạo và số lượng hiền tài của đất nước.
Nội dung của văn hiến biểu hiện trong đời sống con người qua các phương diện Văn hóa, Xã hội, Chính trị, Kinh tế. Những biểu hiện này thay đổi liên tục hết thế hệ này tới thế hệ kia theo từng thời kỳ mạnh, yếu của đất nước đã tạo nên lịch sử.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
( Bình Ngô Đạo Cáo của Nguyễn Trãi)
Một cá nhân không hiểu lịch sử dân tộc mình sẽ ngại ngùng, bở ngở trước các dân tộc khác khi được hỏi tới . Điều này, có thể đưa đến sự chối bỏ nguồn gốc và dẫn tới một quyết định mù quáng. Tại hải ngoại có nhiều người ra đường không dám nhận mình là người VN. Ngược lại, đã không hỗ thẹn tự nhận mình là người Tàu, người Nhật, người Đại hàn. Trong khi lịch sử dựng nước, giữ nước của các dân tộc vừa kể không có gì hay ho đáng để tự hào hơn Việt Nam.
Muốn tự hào về dân tộc, người ta phải hiểu được những thứ đáng để tự hào. Phải trang bị cho mình sự hiểu biết về lịch sử. Muốn được như vậy, thì phải hiểu kiến thức mỗi cá nhân không ai cho, không ai biếu, không ai tặng mà người ta phải tự mình tìm đến nó.
Là người Việt Nam khi hiểu được ý nghĩa các hoa văn khắc hình chim, gà, hươu và con người trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ sau thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch tiêu biểu cho sinh hoạt 4 mùa của muôn loài, là một quyển Âm Lịch kỳ diệu thì chúng ta mới hảnh diện được về văn hóa dân tộc.
Nếu biết thành Cổ Loa xây vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch đời vua An Vương Dương có 9 vòng xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài với các hào, lũy kiên cố về mặt quân sự là tuyến phòng thủ chống ngoại xâm, về mặt xã hội là nơi cư trú của người dân và về mặt văn hóa là trình độ sáng tạo của con người. Thì thành Cổ Loa xứng đáng là một kiến trúc độc đáo của nhân loại. Bởi vì, đem so sánh với Kim Tự Tháp của Ai Cập xây vào năm 2770 trước Tây lịch tuy có nền kiến trúc văn minh cổ đại, nhưng chỉ là mồ chôn của các vua chúa. Hay Vạn Lý Trường Thành đời nhà Thương do Tần Thủy Hoàng xây vào thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch là một công trình, nhưng chỉ là con đường dài ngoằn ngoèo băng qua các đỉnh đồi.
Phải thấy lý tưởng chiến đấu của Hai Bà Trưng, mới tự hào dân tộc VN đã có người phụ nữ lãnh đạo đất nước đầu tiên trên thế giới vào năm 40 sau Tây lịch. Đem so với nữ hoàng Ai cập Cleopastra nối ngôi vua cha vào năm 51 trước Tây lịch hay đời nhà Đường năm 690 có Võ Tắc Thiên, đời Mãn Thanh năm 1835 có Từ Hy Thái Hậu. Và đối với lịch sử cận đại Anh quốc có nữ hoàng Elizabeth Alexandra Mary, có thủ tướng Margaret Hilda Thatcher; Phi luật Tân có tổng thống Maria Cojuangco Aquino, TT. Macapagal Arroyo và Đức quốc có bà thủ tướng Angela Merkel. Thì những người đàn bà vừa kể, không ai thể hiện được tinh thần quốc gia dân tộc với bốn chữ “ Nợ nước, tình nhà”.
Khi nhận ra được trận thủy chiến của Ngô Quyền vào năm 938 và Trần Hưng Đạo vào năm 1288 trên sông Bạch Đằng với quân Nam Hán, quân Nguyên bằng tầm vong, cọc sắt là sự phối hợp và vận dụng thủy triều một cách khoa học có một không hai của nhân loại, và vào năm 1786 chỉ trong vòng bảy ngày vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Mãn Thanh đông gấp mấy chục lần ra khỏi bờ cõi, mới tự hào mình là dân Việt Nam.
Những chiến công và tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc của tiền nhân vừa kể. So với những trận đánh với vủ khí cận đại khi người Anh ca tụng tướng Bernard Montgomery, người Mỹ ca tụng tướng George Smith Patton, người Pháp ca tụng tướng Charles De Gaulle thời đệ nhị thế chiến về “Trận chiến huyền thoại Normandy 1944”,thì những người này vẫn không sánh bằng.
Nhìn lại dân tộc VN , với hơn 1.000 năm bị Tàu đô hộ và 100 năm bị thực dân Pháp cai trị, nhưng bản sắc dân tộc vẫn còn. Chúng ta không mất gốc, không bị đồng hóa và còn xuất sắc hơn nữa là đã có được một tiếng nói riêng độc đáo. Đặc thù này so với các dân tộc Nam Mỹ như: Mễ, Ba Tây, Á Căn Đình v.v… họ chỉ bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đô hộ chưa đầy 100 năm đã mất gốc, tiếng nói không còn. Vậy thì tại sao chúng ta không tự hào về dân tộc của mình?
Người Việt tỵ nạn cộng sản nếu không hiểu rõ lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ, là sự chuyển hóa nối tiếp của lá cờ dân tộc với “quẻ càng” có nền vàng từ năm 1802 đời nhà Nguyễn, chớ không phải là quốc kỳ của thời đệ nhứt, đệ nhị VNCH. Thì làm sao đủ thuyết phục người nghe, khi muốn triệt hạ lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN bán nước xuất hiện năm 1930, đang áp đặt lên dân tộc Việt Nam.
Người Mỹ không chấp nhận lá cờ “Con Voi Trắng” của đảng Cộng hoà hay “Con lừa ” của đảng Dân chủ là quốc kỳ của mình. Họ chỉ công nhận lá cờ hiện nay có tiểu sử từ 13 ngôi sao (thirteen colonies) đến 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang kể từ ngày lập quốc vào năm 1776. Thì phải hiểu người Việt Nam tỵ nạn CS tại hải ngoại không chấp nhận lá cờ máu của đảng CSVN là điều đương nhiên.
Việt Cộng gian ác đang ngụy tạo lịch sử dân tộc. Chúng cho rằng vua Hùng có công dựng nước, nhưng người có công giữ nước là Hồ Chí Minh. Đây là một sự man trá trắng trợn không thể tha thứ được. Do đó, kiến tạo niềm tự hào để trả sự thật cho lịch sử là điều cần thiết đối với mọi thế hệ. Đặc biệt là thế hệ trẻ, những người đang trên đường thay thế cha, thay thế anh trong sự nghiệp xây dựng cộng đồng VN hải ngoại và chuẩn bị kiến tạo một nước Việt Nam độc lập, tự do không cộng sản tại quê nhà.
Với quá trình dựng nước và giữ nước qua bao thăng trầm, dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn. Điều này, phải chăng đã cho thấy chúng ta nhờ có truyền thống “mấy ngàn năm văn hiến” ? Nếu thừa nhận và coi đó là tài sản quí báu của cha, ông để lại thì đây không phải là điều chúng ta ngẫng mặt tự hào hay sao?
Đặng thiên Sơn (26/8/09)
Tài liệu tham khảo:
-Việt Nam Văn Minh Sử của Lê Văn Siêu
-Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
- Bách Khoa Toàn Thư (Wikipedia)
>> Xem Tiếp!