Showing posts with label Khoa Học. Show all posts
Showing posts with label Khoa Học. Show all posts

Tuesday, September 14, 2010

Báo Thế Hệ Mới Số 16

Báo Thế Hệ Mới số 16: http://www.vietvoter.com/thm/thm16/thm16.html

Đọc lại những số báo trước: http://www.vietvoter.com/thm.html
>> Xem Tiếp!

Thursday, August 12, 2010

Friday, March 19, 2010

Báo Thế Hệ Mới: Số 5

Kính mời quý vị đọc báo Thế Hệ Mới số 5 và các số trước tại đây: www.vietvoter.com/thm.html
>> Xem Tiếp!

Thursday, October 29, 2009

Mỹ thử nghiệm sản xuất nhiên liệu sinh học từ dưa hấu

Gail Banzet( 26/10/2009)
Hơn 340 triệu kg dưa hấu hư thối trên các cánh đồng ở Hoa Kỳ mỗi năm.
Mỗi năm tại Hoa Kỳ, hơn 340 triệu kilogram dưa hấu bị hư thối trên các cánh đồng. Những quả bỏ lại này không thể bán ra thị trường vì bị cháy nắng, bị bệnh hoặc bị dập nát, nhưng giờ thì các nhà khoa học ở Oklahoma đang nghiên cứu một giải pháp tận dụng những quả bỏ đi.
Những nhà trồng dưa hấu nói rằng 2009 là một mùa tương đối bội thu. Trong những tháng mùa hè, nhiều dưa hấu ngọt và mọng nước đã được thiêu thụ, nhưng mỗi năm, khoảng 20% số dưa được thu hoạch không thể tới được người tiêu dùng.
Nhà nghiên cứu hóa học Wayne Fish lái chiếc xe tải vòng quanh phòng thí nghiệm nghiên cứu nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) ở Lane, Oklahoma. Có 130 hectare các loại cây và rau khác nhau, và một nửa hectare được dành riêng cho dưa hấu. Các công nhân đã hái lượm những quả tốt nhất
Những quả còn lại bị bạc màu, méo mó hoặc bị cáo hoặc chim làm hỏng.

Nhưng ông Wayne Fish nói rằng dưa hấu vẫn có thể sử dụng được: ‘Chúng vẫn có thể tạo ra nhiên liệu sinh học’.

Bốn năm trước, Hiệp hội Dưa hấu Quốc gia bắt đầu nghiên cứu khả năng chế ethanol từ chất đường trong dưa hấu. Khi dự án này cho thấy các kết quả khả quan, một thử nghiệm đã bắt đầu tại một trạm nghiên cứu ở Oklahoma.

Ông Bob Morrissey là Giám đốc Điều hành của Hiệp hội Dưa hấu Quốc gia nói: ‘Nếu bạn có một quả dưa hấu chín hết cỡ, nó có tất cả các thành phần cần thiết để sản xuất nhiên liệu sinh học là nước, đường và chất xơ’.


Tại trạm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ông Wayne Fish và nhóm của ông kết hợp men với đường dưa hấu. Vài giờ sau, hỗn hợp được cho lên men và được đặt trong một máy chưng cất.

Ông Fish cho biết thêm: ‘Bằng cách chưng cất hỗn hợp này, người ta có thể tạo ra ethanol với một lượng nước nhỏ. Đó là cách chúng tôi tinh luyện hỗn hợp để biến chúng thành nhiên liệu ethanol 95%’.

Ông Fish nói rằng dự án này không phải nhằm thay thế mía hoặc bắp để sản xuất nhiên liệu sinh học. Tiến trình thử nghiệm này cho thấy những quả dưa hấu bỏ đi có thể mang lại thêm một số lượng ethanol nào đó cho thị trường.

Ông Bob Morrissey tại Hiệp hội Dưa hấu Quốc gia nói rằng việc sử dụng dưa hấu có thể mở ra một thị trường mới cho các nông gia. Họ có thể bán những quả ngon cho khách tiêu thụ mua về ăn và những quả hỏng cho các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học.

Ông Morrissey nói: ‘Một nông nhân thực sự có thể thu hoạch toàn bộ vụ mùa, chuyển chúng tới nhà máy ethanol, và ít ra là vẫn còn kiếm cahc được chút đỉnh để bù đắp vào khỏan đầu tư thay vì bị thua lỗ hoàn toàn’.

Có rất nhiều nông dân ở khắp nước này lo lắng về những quả dưa hấu bị bỏ phí.

Ông Jim Motes từ Oklahoma dù ông không phải là một nông dân có nông trại lớn, ông nói rằng ông luôn tìm cách tận dụng hết vụ mùa của mình: ‘Nếu họ có thể tìm được một số lượng lớn để sản xuất ra nhiên liệu sinh học, thì đó là một ý kiến hay. Bởi lẽ có nhiều dưa hấu nằm lãng phí ở đó, mà khi ruộng đồng cần phải cày xới lại thì chúng cần phải được sử dụng theo một cách nào đó’.

Các nhà nghiên cứu nói rằng ethanol sản xuất từ dưa hấu đang nhận được nhiều sự chú ý. Một công ty có trụ sở ở Texas có tên gọi Common Sense Agriculture hiện đang thiết lập một đơn vị lưu động có thể chế biến đường dưa hấu và sản xuất ethanol ngay trên cánh đồng.

voa

>> Xem Tiếp!

Tuesday, September 22, 2009

T-45 GOSHAWK PHẢN LỰC CƠ HUẤN LUYỆN HOA KỲ

* BKTT (video cuối trang)

T-45 Goshawk là một lớn máy bay phản lực huấn luyện, đây là phiên bản sửa đổi ở mức độ lớn của nguyên bản là BAE Hawk. Nó được lắp ráp bởi McDonnell Douglas (hiện này là Boeing), T-45 được sử dụng bởi Hải quân Hoa Kỳ như một máy bay huấn luyện trên HÀNG KHÔNG MẪU HẠM

Thiết kế và phát triển
T-45 Goshawk là một phiên bản có khả năng mang vũ khí đầy đủ của Hawk Mk.60.[1][2] Nó được phát triển cho Hải quân Hoa Kỳ để sử dụng trong huấn luyện.
Nguồn gốc của Goshawk bắt đầu vào giữa thập niên 1970, khi Hải quân Mỹ bắt đầu tìm kiếm một mẫu máy bay thay thế cho các máy bay huấn luyện T-2 và TA-4 của mình.[3][4] Hải quân bắt đầu chương trình huấn luyện cao cấp VTXTS vào năm 1978.
Các hãng British Aerospace và McDonnell Douglas đã đề xướng một phiên bản của Hawk và đã được chấp thuận, hợp đồng đặt mua T-45 được ký vào năm 1981.[5]
Chiếc Hawk nguyên không được thiết kế để hoạt động trên tàu sân bay; vì vậy Hải quân đã yêu cầu thực hiện nhiều thay đổi, bao gồm các cải tiến đặc tính điều khiển ở tấc độ chậm và giảm bớt tốc độ tiếp cận.[3] Các thay đổi khác là gia cố thêm khung máy bay,[6] bộ bánh đáp chắc chắn và rộng hơn, bổ sung phần gắn kết với máy phóng và một móc hãm.[3] Bánh đáp trước của nó có hai bánh.[7]
Goshawk bay lần đầu tiên vào năm 1988 và bắt đầu hoạt động chính thức vào năm 1991.[7] Hãng BAE Systems đã sản xuất phần thân cuối của buồng lái, những khe lấy không khí, bộ thăng bằng thẳng đứng và cánh của T-45. Boeing sản xuất phần còn lại của máy bay và lắp ráp chúng tại St. Louis.
Vào ngày 16 tháng 3 năm 2007, khung máy bay thứ 200 đã được cung cấp cho hải quân Mỹ. Theo những yêu cầu của hải quân, khoảng 223 chiếc sẽ được sản xuất và T-45 sẽ hoạt động cho đến năm 2035.[8]

Lịch sử hoạt động


T-45A hạ cánh trên tàu USS John F. Kennedy (CVA-67)

T-45 được sử dụng cho chương trình hoạt động huấn luyện trung cấp và cao cấp của phi công tấn công thuộc Hải quân/Thủy quân lục chiến, tại Training Air Wing ONE ở Naval Air Station Meridian, Mississippi và Training Air Wing TWO ở Naval Air Station Kingsville, Texas. T-45 thay thế cho các máy bay huấn luyện T-2C Buckeye và TA-4J Skyhawk II với một hệ thống huấn luyện tổng hợp, bao gồm máy bay T-45 Goshawk, các thiết bị mô phỏng dụng cụ bay và hoạt động bay (OFT/IFT), các trường huấn luyện, và hệ thống huấn luyện hỗ trợ mở rộng.
Bắt đầu trong năm tài chính 2008, T-45 sẽ được sử dụng huấn luyện trong cả Hải quân và Văn phòng bay thủy quân lục chiến (NFO), nó được sử dụng tại Training Air Wing SIX ở Naval Air Station Pensacola, Florida.
T-45A và T-45C hiện nay là hai mẫu đang được sử dụng. T-45A, hoạt động vào năm 1991, có một buồng lái tương tự như thiết kế mới trên T-45C, đợt chuyển giao T-45C đầu tiên diễn ra vào tháng 12 năm 1997, điểm nổi bật là thiết kế “buồng lái kính” số. Tất cả máy bay T-45A sẽ dần dần được chuyển đổi thành tiêu chuẩn của T-45C trong chương trình hiện đại hoá hệ thống điện tử hàng không (T-45 RAMP).
Các phiên bản
T-45A
Máy bay phản lực huấn luyện cơ bản và nâng cáo hai chỗ cho Hải quân Hoa Kỳ.
T-45B
Phiên bản sử dụng trên đất liền được đề xướng cho Hải quân Hoa Kỳ, về căn bản là một sự chuyển đổi loại BAE Hawk với một buồng lái của hải quân và không có khả năng sử dụng trên tàu sân bay. Hải quân Hoa Kỳ muốn T-45B có được khả năng huấn luyện như phiên bản trước đó, nhưng ý tưởng đã bị lãng quên vào năm 1984 khi những cải tiến tốn kém ít hơn cho TA-4 và T-2 được thực hiện.
T-45C
T-45A cải tiến với buồng lái kính, dẫn đường quán tính, và cải tiến một số thiết bị khác. Những chiếc T-45A hiện này sẽ được nâng cấp lên thành tiêu chuẩn của T-45C.
Quốc gia sử dụng
Hoa Kỳ
Hải quân Hoa Kỳ
Thông số kỹ thuật (T-45A)


T-45A

Dữ liệu từ “The International Directory of Military Aircraft, 2002-2003,[1] Navy fact file”[7]
Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 39 ft 4 in (11.99 m)
Sải cánh: 30 ft 10 in (9.39 m)
Chiều cao: 13 ft 5 in (4.08 m)
Diện tích cánh: 190.1 ft² (17.7 m²)
Trọng lượng rỗng: 10.403 lb (4.460 kg)
Trọng lượng cất cánh: n/a
Trọng lượng cất cánh tối đa 14.081 lb (6.387 kg)
Động cơ: 1× Rolls-Royce Turbomeca Adour F405-RR-401, 5.527 lbf (26 kN)
Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 560 kt, 645 mph, 1.038 km/h
Tầm bay: 700 nmi (805 mi, 1288 km)
Trần bay: 42.500 ft (12.950 m)
Vận tốc lên cao: 8.000 ft/min (40.6 m/s)

Vũ khí
Thường không trang bị. Một giá treo dưới mỗi cánh có thể mang bom, rocket hoặc thùng nhiên liệu phụ
XEM VIDEO

T-45 GOSHAWK

BKTT

>> Xem Tiếp!

Wednesday, September 2, 2009

Thiết giáp hạm USS Nevada (BB-36) Hoa Kỳ

Thiết giáp hạm USS Nevada (BB-36) Hoa Kỳ * USS Nevada (BB-36)
(tên lóng: “Cheer Up Ship”[13]), chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên của tiểu bang thứ 36 của Hoa Kỳ, là chiếc dẫn đầu trong số hai chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nevada; chiếc tàu cùng loại với nó chính là chiếc Oklahoma. Được hạ thủy vào năm 1914, Nevada là một loại tàu chiến hạng nặng, với bốn trong trong số các đặc tính của nó hiện diện trên tất cả các thiết giáp hạm Mỹ sau này: tháp pháo với ba khẩu súng chính,[14] súng phòng không, thay thế than bằng dầu làm nhiên liệu, và nguyên tắc “tất cả hoặc không có gì” khi thiết kế vỏ thép. Các đặc tính này làm cho Nevada trở thành chiếc thiết giáp hạm “Siêu Dreadnought” đầu Nevada đã phục vụ trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới: trong những tháng cuối cùng của Thế Chiến I, Nevada đặt căn cứ tại vịnh Bantry, Ireland để bảo vệ các đoàn tàu vận tải đi và đến nước Anh.
Trong Thế chiến II, nó là một trong những thiết giáp hạm bị kẹt lại bên trong vịnh khi Hải quân Nhật tấn công
Trân Châu Cảng. Nó là chiếc thiết giáp hạm duy nhất di chuyển được trong cuộc tấn công, khiến cho nó trở thành “điểm sáng duy nhất trong ngày ảm đạm và suy sụp đó” của nước Mỹ.
Dù vậy, nó vẫn bị đánh trúng một quả ngư lôi và ít nhất sáu trái bom trong khi di chuyển ra khỏi nơi neo đậu hàng thiết giáp hạm, buộc nó phải tự mắc cạn gần bờ. Sau khi được trục vớt và tân trang tại xưởng hải quân Puget Sound, Nevada trách nhiệm hộ tống các đoàn tàu vận tải tại vùng biển Đại Tây Dương, và yểm trợ hỏa lực cho nhiều cuộc tấn công đổ bộ tại Normandy và tại miền Nam nước Pháp; và trong trận Iwo Jima và trận Okinawa tại mặt trận Thái Bình Dương.
Sau khi kết thúc Thế Chiến II, Hải quân Mỹ đánh giá chiếc Nevada đã quá cũ để có thể giữ lại, nên họ đã dùng nó như một mục tiêu trong các cuộc thử nghiệm nguyên tử được thực hiện tại đảo san hô Bikini vào tháng 7 năm 1946 (Chiến dịch Crossroad). Sau khi chịu đựng hai trái bom nguyên tử, nó vẫn có thể nổi được nhưng bị hư hại và bị nhiễm phóng xạ nặng nề. Nó được ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 8 năm 1946 và bị đánh chìm trong một cuộc thực tập tác xạ pháo hải quân vào ngày 31 tháng 7 năm 1948.




Thiết kế và chế tạo
Thiết kế


Sơ đồ chiếc Nevada trước khi được cải tạo năm 1927



Sơ đồ chiếc Nevada sau khi được sửa chữa và tân trang năm 1942, hình của Cục tình báo Hải quân Mỹ.

Là chiếc thiết giáp hạm đầu tiên thuộc thế hệ thứ hai[16] và cũng là chiếc đầu tiên thuộc loại “Siêu-Dreadnought” của Hải quân Mỹ, Nevada được các sử gia hiện tại mô tả như là “cách mạng”[16][17] và “tối tân như chiếc Dreadnought vào thời của nó”[18]. Vào lúc nó hoàn thành vào năm 1916 [19] báo New York Times nhấn mạnh rằng nó là “chiếc thiết giáp hạm vĩ đại nhất đang hoạt động”[20] vì nó lớn hơn nhiều so với những chiếc thiết giáp hạm Mỹ đương thời: lượng rẽ nước của nó gần gấp ba lần so với chiếc thiết giáp hạm cũ thế hệ Tiền-Dreadnought Oregon (1890), gần gấp hai lần so với chiếc Connecticut (1904), và nặng hơn gần 8.000 tấn so với một trong những chiếc dreadnought đầu tiên, Delaware, chỉ mới được chế tạo bảy năm trước chiếc Nevada.[20]
Nevada là chiếc thiết giáp hạm đầu tiên của Mỹ có tháp pháo ba khẩu pháo,[16][21][22] một ống khói duy nhất,[23] pháo phòng không,[20] và dùng nhiên liệu dầu để cung cấp động năng.[20][24] Đặc biệt, việc sử dụng dầu khiến cho con tàu có ưu thế kỹ thuật so với những chiếc đốt than cũ hơn,[15] vì dầu có hiệu quả hơn than do cung cấp một bán kính hoạt động lớn hơn với cùng một khối lượng nhiên liệu.
Đây là mối quan tâm lớn của Hội đồng Tướng lĩnh Hải quân vào lúc đó. Vào năm 1903, Hội đồng nhận định rằng mọi thiết giáp hạm Mỹ phải có bán kính hoạt động tối thiểu là 9.700 km (6.000 dặm) để Hoa Kỳ có thể thực hiện được Học thuyết Monroe. Một trong những mục đích chính của Hạm đội Great White, từng đi vòng quanh thế giới trong những năm 1907– 1908, là để chứng minh cho Nhật Bản thấy rằng Hải quân Mỹ có thể “mang mọi cuộc đối đầu hải quân đến vùng biển nhà Nhật Bản”.
Có thể do hậu quả của điều này, những thiết giáp hạm sau năm 1908 được thiết kế để “đi được 8.000 dặm ở tốc độ đường trường”; là khoảng cách giữa San Pedro nơi hạm đội đặt căn cứ, và Manila là nơi mà hạm đội dự định phải chiến đấu theo bản Kế hoạch Cận chiến tranh là 6.550 hải lý[25] (12.100 km, 7.500 dặm), tầm hoạt động rõ ràng là mối quan tâm chính của Hải quân Mỹ
.Hơn nữa, nhiên liệu dầu cũng giúp giảm bớt nhân sự cần cho các lò đốt;[28] kỹ sư trên chiếc Delaware đã ước lượng rằng 100 thợ đốt lò (stoker) và 112 người chuyển than có thể được thay bằng 24 người, do đó giảm bớt số khoang cabin trên tàu; giúp giảm tải trọng, giảm lượng nước và tiếp liệu mà con tàu cần mang theo.[29]
Thêm vào đó, Nevada có được lớp vỏ tối đa bên trên các vùng trọng yếu, như hầm đạn và động cơ, và không có vỏ thép trên những nơi không quan trọng, cho dù những thiết giáp hạm trước đây có vỏ giáp với độ dày khác nhau tùy theo tầm quan trọng của vùng nó bảo vệ. Thay đổi tận căn bản này về sau được biết đến như là nguyên tắc “tất cả hoặc không có gì”, mà sau đó được các lực lượng hải quân trên thế giới áp dụng cho thiết giáp hạm của họ.
Với sơ đồ vỏ thép mới được áp dụng, trong lượng của vỏ trên chiếc thiết giáp hạm mới chiếm đến 41,1% tổng lượng rẽ nước.[31]
GHI CHÚ
tổng lượng rẽ nước
Là khối lượng nước mà con tàu chiếm chỗ, có thể được đo bằng mét khối hay cubic-feet (volume of displacement) hoặc bằng tấn (Weight of displacement or displace-ment tonnage).
Trọng lượng rẽ nước (tấn) = Thể tích nước làm tàu chiếm chỗ (m3) x tỷ trọng nước
Kết quả của tất cả các thay đổi trong thiết kế so với những thiết giáp hạm trước đây, Nevada trở thành chiếc đầu tiên của loại thiết giáp hạm được gọi là “Tiêu chuẩn”.[32] Các đặc tính “chuẩn” này là sử dụng dầu đốt, nguyên lý vỏ giáp “tất cả hoặc không có gì”, và sự sắp xếp hỏa lực pháo chính thành bốn tháp pháo đôi hoặc ba mà không có tháp pháo nào ở vị trí giữa tàu.[33]
Hai chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nevada trong thực tế giống như nhau ngoại trừ phần động lực của chúng: Oklahoma được trang bị kiểu động cơ hơi nước kiểu cũ hơn ba buồng bành trướng đặt dọc, trong khi Nevada có động cơ turbine hơi nước Curtis.[1][6][34]
Chế tạo và chạy thử máy


Nevada trong khi đang chạy thử máy vào đầu năm 1916.

Kế hoạch chế tạo Nevada được Quốc Hội thông qua ngày 4 tháng 3 năm 1911. Hợp đồng chế tạo được giao cho Fore River Shipbuilding Company vào ngày 22 tháng 1 năm 1912 với tổng trị giá 5.895.000 Đô la Mỹ[35] (không bao gồm vỏ giáp và vũ khí), và thời gian chế tạo được dự trù lúc ban đầu là 36 tháng.
Một hợp đồng thứ hai được ký kết vào ngày 31 tháng 7 năm 1912 với một khoảng tiền 50.000 Đô la[36] chi phí bổ sung cho bộ hộp số chạy đường trường cho mỗi trục cánh quạt; và hợp đồng này cũng kéo dài thời gian chế tạo thêm năm tháng.[1]
Lườn của nó được đặt vào ngày 4 tháng 11 năm 1912, và đến ngày 12 tháng 8 năm 1914, con tàu được hoàn thành đến 72,4%.[37]
\ Nevada được hạ thủy vào ngày 11 tháng 7 năm 1914 nó được đỡ đầu bởi Eleanor Anne Seibert, cháu gái của Thống đốc tiểu bang Nevada Tasker Oddie và là một hậu duệ của Bộ trưởng Hải quân đầu tiên của Hoa Kỳ Benjamin Stoddert.[2][3]
Buổi lễ hạ thủy có sự tham dự của nhiều quan chức chính phủ nổi bật, bao gồm Thống đốc Oddie, Thống đốc bang Massachusetts David I. Walsh, Nghị sĩ bang Nevada Key Pittman, Bộ trưởng Hải quân Josephus Daniels và Phụ tá Bộ trưởng Franklin D. Roosevelt,[3] người sẽ trở thành Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ.
Sau đó Nevada trải qua nhiều cuộc thử nghiệm và chạy thử máy khác nhau trước khi được cho hoạt động nhằm đáp ứng các điều kiện trong hợp đồng. Chúng được bắt đầu vào ngày 4 tháng 11 năm 1915, khi con tàu thực hiện một chuyến đi kéo dài 12 giờ dọc theo bờ biển New England, đạt được tốc độ tối đa 40 km/h (21,4 knot).[38]
Mặc dù công việc nghiệm thu nó bị gián đoạn vào ngày 5 tháng 11 do một cơn cuồng phong và biển động, chúng được tiếp tục vào ngày 6 bằng thử nghiệm độ tiêu hao nhiên liệu; bao gồm một chuyến đi kéo dài 24 giờ khi Nevada di chuyển ở vận tốc 18 km/h (10 knot).[39]
Kết quả thử nghiệm : lượng dầu tiêu thụ của chiếc tàu chiến thấp hơn 6 pound mỗi knot so với yêu cầu của hợp đồng. Một thử nghiệm khác kéo dài 12 giờ ở tốc độ 28 km/h (15 knot) cho kết quả còn tốt hơn nữa với 10 pound ít hơn cho mỗi knot.[40]
Sau khi hoàn tất mọi thử nghiệm trên và các cuộc chạy thử ngoài khơi Rockland, Maine,[23] Nevada di chuyển đến Xưởng Hải quân Boston và Xưởng Hải quân New York để lắp đặt máy móc, ống phóng ngư lôi và vũ khí.[41] Sau khi mọi sự chuẩn bị hoàn tất,
Nevada được đưa vào hoạt động ngày 11 tháng 3 năm 1916 tại Xưởng hải quân Charlestown, và William S. Sims trở thành thuyền trưởng đầu tiên của con tàu mới.[42]
Lịch sử hoạt động
Thế Chiến I


Phần đuôi chiếc Nevada trong giai đoạn Thế Chiến I.

Sau khi được trang bị tại xưởng hải quân Boston và New York, Nevada gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương tại Newport, Rhode Island vào ngày 26 tháng 5 năm 1916. Trước khi Hoa Kỳ tham gia Thế Chiến I, nó thực hiện nhiều chuyến đi huấn luyện và thực hành tại vùng biển ngoài khơi căn cứ của nó ở Norfolk, Virginia, hướng về phía Nam đến tận vùng biển Caribbe trong những chuyến đi này.[30] Hoa Kỳ chính thức tham chiến vào năm 1917, nhưng chiếc thiết giáp hạm mới không được gửi sang bên kia bờ Đại Tây Dương do hoàn cảnh thiếu nhiên liệu dầu đốt tại Anh.[43]
Thay vào đó, bốn chiếc thiết giáp hạm đốt than (Delaware, Florida, Wyoming và New York) được lệnh rời Hoa Kỳ tham gia Hạm đội Grand Anh Quốc vào ngày 25 tháng 11 năm 1917; chúng đến nơi ngày 7 tháng 12, và được đặt tên là Hải đội Thiết giáp hạm 6 của Hạm đội Grand.Chiếc thiết giáp hạm thứ năm Texas phải được sửa chữa sau khi bị mắc cạn tại đảo Block, khiến phải trì hoãn việc khởi hành của con tàu đến tận ngày 30 tháng 1 năm 1918, và cuối cùng nó đến được Scotland vào ngày 11 tháng 2.[48]
Phải đến tận ngày 13 tháng 8 năm 1918, Nevada mới rời Mỹ sang Anh Quốc,[2] trở thành chiếc tàu chiến Mỹ cuối cùng tham gia hạm đội.[49]
Sau chuyến đi kéo dài mười ngày, nó đến Berehaven, Ireland vào ngày 23 tháng 8.[2] Cùng với chiếc thiết giáp hạm Utah và chiếc Oklahoma cả ba chiếc tàu chiến được gọi tên lóng là “Hải đội vịnh Bantry “;[50] trong khi một cách chính thức đây là Đội Thiết giáp hạm 6 dưới quyền chỉ huy của phó Đô đốc Thomas S. Rodgers, vốn chọn Utah làm soái hạm của mình.[51][52]
Trong giai đoạn còn lại trước khi Thế Chiến I kết thúc, ba chiếc thiết giáp hạm này hoạt động tại vùng biển ngoài khơi cảng, hộ tống các đoàn tàu vận tải lớn và giá trị đi đến quần đảo Anh Quốc nhằm đảm bảo rằng các tàu chiến hạng nặng của Đức không thể lọt qua được đội hình của Hạm đội Grand Anh Quốc để tấn công các tàu buôn vốn chỉ được hộ tống yếu kém bởi các tàu tuần dương cũ. Điều này chưa bao giờ xảy ra, và chiến tranh kết thúc vào ngày 11 tháng 11 mà Nevada chưa có dịp đối mặt cùng đối phương trong chiến tranh.[30]
Trong giai đoạn phục vụ tại phía Đông Đại Tây Dương, Nevada từng thực hiện một chuyến đi tuần tra đến Bắc Hải, nhưng các nguồn dẫn đã không xác định được thời điểm cụ thể.[2][54]
Vào ngày 13 tháng 12, Nevada cùng chín thiết giáp hạm khác và 28 tàu khu trục đã hộ tống chiếc tàu chở khách George Washington cùng Tổng thống Woodrow Wilson đi đến Brest, Pháp trong ngày cuối cùng của chuyến đi tham dự Hội nghị hòa bình Paris. Thoạt đầu kế hoạch dự định cho hạm đội gặp gỡ George Washington và lực lượng hộ tống (chiếc thiết giáp hạm Pennsylvania cùng bốn tàu khu trục) cách bờ biển Brest 2.400 km (1.500 dặm),[55] nhưng sau đó dự tính này được thay đổi; và lực lượng hạm đội gặp gỡ Tổng thống tại một điểm cách Best “một khoảng ngắn” và hộ tống ông vào cảng.
[56] Mười chiếc thiết giáp lên đường quay trở về nhà vào 14 giờ ngày hôm sau, 14 tháng 12.[57] Chúng mất không đầy hai tuần để vượt qua Đại Tây Dương, và về đến New York ngày 26 tháng 12 trong không khí hân hoan của diễn hành và lễ hội ăn mừng việc chiến tranh đã kết thúc.[49]
Những năm giữa hai cuộc thế chiến


Nevada trong ụ tàu tại Trân Châu Cảng, khoảng năm 1935

Giữa hai cuộc thế chiến, Nevada phục vụ cho cả hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.[2] Cho dù ban đầu được trang bị 21 khẩu pháo 127 mm (5″)/51 caliber để phòng thủ chống tàu khu trục đối phương,[24] số pháo này được giảm xuống còn 12 khẩu vào năm 1918[58] do các vị trí phía trước và phía sau bị ướt quá mức.[24]
Cùng với chiếc Arizona, Nevada đại diện cho Hoa Kỳ nhân dịp triển lãm Một trăm năm Peru vào tháng 7 năm 1921.[59]
Một năm sau đó, cùng với chiếc Maryland, nó quay trở lại Nam Mỹ để hộ tống cho chiếc tàu chở khách Pan America cùng với Ngoại trưởng Charles Evans Hughes trên tàu; tất cả cùng tham gia Lễ kỷ niệm Một trăm năm Độc lập Brazil tại Rio de Janeiro diễn ra từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 9 năm 1922.[2][60][61]
Ba năm sau, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1925, Nevada tham gia “chuyến đi thăm viếng của Hạm đội Hoa Kỳ đến Australia và New Zealand. Trong chuyến đi này, những con tàu chỉ có được những dịp tiếp tế hạn chế nhưng cũng thực hiện được chuyến đi đến tận Australia và quay về mà không bị trễ hạn.[62] Điều này đã chứng tỏ cho các nước đồng minh và Nhật Bản khả năng của Hải quân Hoa Kỳ có thể thực hiện các chiến dịch vượt qua Thái Bình Dương[2] và đối đầu cùng Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay tại vùng biển nhà của họ,[62] nơi mà cả người Nhật lẫn kế hoạch chiến tranh của Hoa Kỳ đều dự đoán rằng “trận chiến quyết định”, nếu có, sẽ diễn ra.[63]
Sau chuyến đi, Nevada được tân trang tại xưởng hải quân Norfolk từ tháng 8 năm 1927 đến tháng 1 năm 1930, thay đổi kiểu cột buồm dạng “giỏ” thành kiểu cột buồm dạng “ba chân”[64] và các turbine hơi nước được thay thế từ chiếc thiết giáp hạm North Dakota vốn vừa được gạch tên khỏi Danh sách Đăng bạ
.[21] Ngoài ra, nhiều thay đổi và bổ sung khác nhau cũng được thực hiện: các khẩu pháo chính của nó có góc nâng được tăng lên đến 30 độ cho phép tăng tầm bắn từ 21 km (23.000 yard) lên 31 km (34.000 yard), đai giáp chống ngư lôi được tăng cường trong khi sáu nồi hơi được bố trí lại để dành chỗ cho các đai giáp này, hai máy phóng được bổ sung dành cho ba chiếc máy bay trinh sát cánh kép Vought O2U-3 Corsair,[65] tám khẩu 127 mm (5″)/25 caliber được bổ sung,[58] một thiết kế cấu trúc thượng tầng mới được trang bị, và dàn pháo hạng hai 5″/51 caliber của nó được bố trí lại[64] tương tự như kiểu sắp xếp trên lớp thiết giáp hạm mới New Mexico.[65] Sau đó Nevada phục vụ trong Hạm đội Thái Bình Dương trong mười một năm tiếp theo sau.[64]
Tấn công Trân Châu Cảng


Sơ đồ vị trí các con tàu và các cơ sở của Trân Châu Cảng trong cuộc tấn công.

Vào dịp cuối tuần 6–7 tháng 12, tất cả các thiết giáp hạm của Hạm đội Thái Bình Dương đều buông neo trong cảng lần đầu tiên kể từ ngày 4 tháng 7. Thông thường chúng được “luân phiên” nhau nghỉ ngơi trong cảng: sáu chiếc sẽ ra khơi cùng với lực lượng đặc nhiệm thiết giáp hạm của Phó Đô đốc William S. Pye, trong khi vào tuần lễ kế tiếp sẽ đến lượt lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm của Phó Đô đốc William Halsey, Jr.
. Tuy nhiên, vì Halsey không thể cho những chiếc thiết giáp hạm tốc độ chậm chạp 31,5 km/h (17 knot)[66] đi cùng những hkmh của ông với tốc độ 55,5 km/h (30 knot) [66] trong chuyến đi tăng cường thêm máy bay xung kích cho lực lượng Thủy quân Lục chiến trên đảo Wake Island; trong khi đến lượt lực lượng của Pye được nghỉ ngơi trong cảng, nơi “được coi là an toàn”, nên tất cả các thiết giáp hạm đều buông neo vào buổi sáng hôm đó.[67]
Khi mặt trời đã nhô lên bên trên chiếc Nevada và dàn nhạc của con tàu đang cử bài “Morning Colors”, thì những chiếc máy bay đã xuất hiện ở chân trời, mở màn cho trận tấn công Trân Châu Cảng.[68]
Neo đậu về phía đuôi chiếc Arizona, và đứng riêng lẽ một mình dọc theo đảo Ford không cặp chung với bất kỳ chiếc thiết giáp hạm nào khác, nên khác với bảy chiếc kia, Nevada đã có thể cơ động để thoát ra khỏi cảng.[2][69]
Khi các xạ thủ phòng không nổ súng và các kỹ sư bắt đầu nâng áp lực hơi nước, một quả ngư lôi Kiểu 91 46 cm (18 in) duy nhất[10] phát nổ ở khung số 41 khoảng 14 feet bên trên lườn vào lúc 08 giờ 10 phút.[70] Đai giáp chống ngư lôi đã chịu đựng được, nhưng các vết rò rỉ qua các chỗ nối đã gây ngập khiến con tàu nghiêng từ 4 đến 5 độ.[70]
Nevada chỉnh lại độ nghiêng của con tàu bằng cách cho ngập các ngăn đối xứng và bắt đầu khởi hành lúc 8 giờ 40 phút,[70] và đến lúc đó xạ thủ phòng không trên chiếc Nevada đã bắn rơi được bốn máy bay đối phương.[71]
Khi nó đi ngang cầu tàu Ten-Ten[72] lúc khoảng 09 giờ 50 phút, Nevada bị đánh trúng năm quả bom. Một quả bom phát nổ bên trên bếp dành cho thủy thủ đoàn ở khung 80; một quả khác đánh trúng mạn trái và phát nổ ở sàn bên trên; thêm một quả bom nữa đánh trúng gần tháp pháo số 1 gây thủng những lổ lớn ở sàn bên trên và sàn chính. Hai quả bom đánh trúng tháp chỉ huy phía trước gần ngăn số 15; một quả xuyên ra ngoài qua hông sàn tàu thứ hai trước khi phát nổ, nhưng quả thứ hai phát nổ bên trong tàu gần các thùng chứa xăng; sự rò rỉ và hơi xăng từ thùng này đã gây ra các đám cháy dữ dội quanh con tàu.[70]
Các đám cháy xăng bùng phát chung quanh tháp súng số 1 có thể đã gây ra những hư hại nghiêm trọng nếu như các hầm pháo chính không trống rỗng. Nhiều ngày trước khi cuộc tấn công diễn ra, tất cả các khẩu đội pháo 356 mm (14 inch) trên những chiếc thiết giáp hạm được thay thế những đầu đạn tiêu chuẩn bởi những đầu đạn nặng hơn, cho phép có độ đâm xuyên tốt hơn và chứa một lượng thuốc nổ lớn hơn, đánh đổi với việc có tầm bắn bị giảm đi đôi chút. Tất cả các đầu đạn và thuốc nổ cũ được dỡ bỏ khỏi các hầm đạn trên chiếc Nevada, và thủy thủ đoàn đang dừng nghỉ sau khi chất nạp xong kiểu đầu đạn mới trước khi tiếp tục nạp thuốc nổ trong ngày Chủ nhật hôm đó.[73]


Nevada mắc cạn và bốc cháy tại Hospital Point

Khi những hư hại do bom đã trở nên rõ ràng, Nevada được lệnh hướng đến phía Tây đảo Ford để tránh việc bị đánh chìm ngay trên luồng tàu sẽ khiến nó “trở nên một cái nút thắt chặt phần còn lại của hạm đội trong cái chai.”[74] Thay vì vậy, nó được cho mắc cạn tại Hospital Point lúc 10 giờ 30 phút,[75] dưới sự giúp đỡ của chiếc Hoga và chiếc Avocet,[76] cho dù nó đã xoay sở bắn hạ được thêm ba máy bay đối phương trước khi mắc cạn.[71]
Chỉ trong buổi sáng hôm đó, Nevada bị tổn thất với 60 người thiệt mạng và 109 người khác bị thương.[2] Thêm hai người nữa thiệt mạng trên tàu trong chiến dịch trục vớt nó vào ngày 7 tháng 2 năm 1942 khi họ bị ngộ độc khí hydrogen sulfide thoát ra từ giấy và thịt bị phân hủy.[77]
Con tàu chịu đựng ít nhất sáu quả bom và một quả ngư lôi, “có thể con tàu đã bị đánh trúng đến mười quả bom, [...] vì một số hư hại có kích thước lớn đến mức có thể cho là nơi đó bị đánh trúng nhiều hơn một quả bom.”[71]
Attu và ngày D tại Normandy


Hư hại do một trong những quả bom đã đánh trúng Nevada trong trận tấn công Trân Châu Cảng



Nevada yểm trợ cho cuộc đổ bộ lên bãi biển Utah, ngày 6 tháng 6 năm 1944.

Nevada nổi trở lại vào ngày 12 tháng 2 năm 1942 và được cho sửa chữa tạm thời tại Trân Châu Cảng để có thể quay về xưởng hải quân Puget Sound cho một cuộc đại tu toàn bộ.[78] Cuộc đại tu này kéo dài cho đến hết năm 1942, và nó thay đổi diện mạo của chiếc thiết giáp hạm cũ trông gần giống những chiếc thuộc lớp

South Dakota.[79] Các khẩu pháo 127 mm (5″/51 và 5″/25) được thay thế bằng 16 khẩu pháo 127 mm (5″)/38 caliber bố trí trên những tháp súng đôi.[58] Sau đó Nevada khởi hành đi Alaska, nơi nó thực hiện bắn phá yểm trợ từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 5 năm 1942 để chiếm đóng Attu.[2]
Nevada sau đó khởi hành hướng đến xưởng hải quân Norfolk trong tháng 6 nơi nó tiếp ṭục được hiện đại hóa.[2] Sau khi hoàn tất, Nevada thực hiện vai trò hộ tống vận tải tại Đại Tây Dương.[80] Những chiếc thiết giáp hạm cũ như chiếc Nevada được phân phối cho nhiều đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương để bảo vệ chúng khỏi bị các tàu chiến Đức có thể mạo hiểm ra khơi tấn công.
Một trong các đoàn tàu vận tải được Nevada bảo vệ là đoàn tàu UT-2, bao gồm 20 tàu vận tải và tàu chở quân được hộ tống bởi 9 tàu khu trục, 4 tàu quét mìn nhanh và 1 tàu khu trục hộ tống cùng Nevada, tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Carleton F. Bryant, người đã chọn Nevada làm kỳ hạm của mình.
Sau khi rời New York ngày 5 tháng 9, họ hướng về eo biển Bắc; không có sự tiếp xúc nào đối với lực lượng đối phương, và những con tàu hoàn tất hành trình sau mười ngày. Số tàu trên quay trở về Hoa Kỳ vào cuối tháng 9 dưới tên gọi đoàn tàu TU-2.[81]
Sau khi hoàn tất thêm nhiều chuyến hộ tống vận tải, Nevada đi đến Anh Quốc vào tháng 4 năm 1944 nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ Normandy. Nó được chọn làm kỳ hạm cho Chuẩn Đô đốc Morton Deyo trong chiến dịch này.[82] Trong cuộc đổ bộ, Nevada bắn pháo hỗ trợ cho các lực lượng trên bờ từ ngày 6 đến ngày 17 tháng 6, và một lần nữa vào ngày 25 tháng 6; trong giai đoạn này, nó tác xạ vào các vị trí phòng thủ cố định trên bán đảo Cherbourg.[2][83] Các quả đạn của nó bắn xa đến 27 km (17 dặm) vào sâu trong đất liền để phá vỡ các cuộc tập trung quân và phản công của Đức, nó bị phản pháo 27 lần (cho dù không trúng).[2] Nevada sau đó được tán dương do hỏa lực có “độ chính xác lạ lùng” khi yểm trợ các lực lượng bị bao vây, bởi một số mục tiêu mà nó bắn trúng chỉ cách tiền duyên của quân Đồng Minh 550 m (600 yard).[84] Nevada là chiếc tàu chiến duy nhất hiện diện trong cả hai trận Trân Châu Cảng và đổ bộ Normandy.[85][86]
Miền Nam nước Pháp và Iwo Jima
Sau ngày D, lực lượng Đồng Minh hướng đến Toulon cho một cuộc tấn công đổ bộ thứ hai mang mật danh Chiến dịch Dragoon. Để yểm trợ cho chiến dịch này, nhiều tàu chiến được gửi từ các bãi biển Normandy đến Địa Trung Hải; bao gồm năm thiết giáp hạm: Nevada, Texas, Arkansas của Hoa Kỳ,
Ramillies của Anh Quốc và

Lorraine của nước Pháp Tự Do; ba tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ :Augusta Tuscaloosa và Quincy cùng nhiều tàu khu trục và tàu đổ bộ được gửi về hướng nam.[87]
Nevada hỗ trợ cho chiến dịch này từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 25 tháng 9 năm 1944, đấu pháo “tay đôi”[2] cùng “Big Willie”: một pháo đài được tăng cường đáng kể bằng bốn khẩu pháo 340 mm/45 Modèle 1912 bố trí trên hai tháp pháo đôi. Những khẩu pháo này được vớt lên từ chiếc thiết giáp hạm Pháp Provence sau khi hạm đội Pháp bị đánh đắm tại Toulon; những khẩu pháo này có tầm bắn xa đến 35 km (22 dặm) và chúng kiểm soát mọi ngả đường đi đến cảng Toulon
. Thêm nữa, chúng còn được củng cố bằng các tấm giáp dày dựng vào sườn núi đảo Saint Mandrier. Do những mối nguy hiểm này, các con tàu yểm trợ hỏa lực trong chiến dịch này được lệnh phải san bằng pháo đài này.[88] Bắt đầu từ ngày 19 tháng 8 và được tiếp tục trong suốt những ngày tiếp theo sau, một hoặc nhiều chiếc tàu chiến hạng nặng nả pháo vào nó kết hợp cùng không kích ném bom tầm thấp.
Sang ngày 23 tháng 8, lực lượng bắn phá do Nevada dẫn đầu đã tác xạ vào pháo đài trong suốt sáu giờ rưỡi bắn phá, khi Nevada nả đến 354 loạt đạn. Toulon thất thủ vào ngày 25 tháng 8, nhưng pháo đài cầm cự được thêm ba ngày nữa.[89]


Nevada bắn phá Iwo Jima, ngày 19 tháng 2 năm 1945.

Sau đó Nevada lên đường hướng về New York để bảo trì các khẩu pháo của nó.[2] Ngoài ra, các khẩu pháo 356 mm/45 caliber trên tháp pháo số 1 được thay thế bằng pháo Mark 8 tháo dỡ từ tháp pháo số 2 của chiếc Arizona; những khẩu pháo mới này được nâng cấp theo tiêu chuẩn Mark 12.[90][91] Sau khi hoàn tất, nó khởi hành đi Thái Bình Dương và đi đến
Iwo Jima ngày 16 tháng 2 năm 1945[2] chuẩn bị cho việc bắn phá yểm trợ cuộc chiếm đóng hòn đảo này.[92] Nó thực hiện nhiệm vụ nói trên cho đến tận ngày 7 tháng 3,[2] và trong khi nả pháo, nó tiến đến gần sát hòn đảo ở khoảng cách 550 m (600 yard) để cung cấp hỏa lực tối đa cho lực lượng trên bộ tấn công.[84]
Okinawa và Nhật Bản
Ngày 24 tháng 3 năm 1945, Nevada gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 54 (TF 54) ngoài khơi Okinawa nhằm bắn phá chuẩn bị cho việc tấn công chiếm đóng hòn đảo này. Các tàu chiến của Lực lượng Đặc nhiệm TF 54 di chuyển vào vị trí xuất phát trong đêm 23 tháng 3 để bắt đầu thực hiện nhiệm vụ bắn phá vào rạng sáng ngày 24.[93]
Cùng với các lực lượng khác, Nevada nả pháo vào các sân bay, kho dự trữ, các công trình phòng ngự và các điểm tập trung quân lính của Nhật Bản.[2] Tuy nhiên, sau khi rút lui và nghỉ ngơi vào ban đêm, rạng sáng ngày hôm sau “mở ra như sấm chớp” khi bảy chiếc máy bay tấn công cảm tử kamikaze tấn công vào lực lượng đặc nhiệm trong khi nó không được bảo vệ từ trên không.
Một máy bay kamikaze, đã bị súng phòng không bắn trúng liên tục, vẫn bổ nhào lên sàn tàu chính của chiếc Nevada bên cạnh tháp súng số 3, giết chết 11 người và làm bị thương 49 người khác; nó cũng phá hủy cả hai khẩu pháo 356 mm (14″) của tháp súng này và ba khẩu đội súng phòng không 20 mm.[94]
Hai người khác bị thiệt mạng vì hỏa lực của một khẩu đội pháo duyên hải trên bờ bắn trúng vào ngày 5 tháng 4. Cho đến ngày 30 tháng 6, nó vẫn thường trực ngoài khơi Okinawa; rồi sau đó nó được chuyển sang Đệ Tam hạm đội từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 7 tháng 8, đưa Nevada tiến sát đến tầm bắn vào các đảo chính quốc Nhật Bản trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tuy nhiên nó đã không tham gia vào việc bắn phá các đảo chính quốc Nhật Bản.[2][95]
Sau chiến tranh


Một bức tranh màu nước của Hải quân Mỹ do Arthur Beaumont vẽ trên cầu tàu chiếc Arkansas sau thử nghiệm “Able”; chiếc tàu màu cam là Nevada.

Nevada quay về Trân Châu Cảng sau một giai đoạn ngắn hỗ trợ việc chiếm đóng Nhật bản trong vịnh Tokyo. Sau đó Nevada được khảo sát đánh giá, và với tuổi đời lên đến trên 32 năm, nó được xem là quá cũ để được giữ lại trong hạm đội sau chiến tranh.[4][64] Kết quả là nó được chọn làm tàu mục tiêu cho cuộc thử nghiệm nguyên tử Bikini (Chiến dịch Crossroads) vào tháng 7 năm 1946.[2]
Thử nghiệm này bao gồm việc cho nổ hai quả bom nguyên tử để khảo sát hiệu quả của chúng trên các con tàu chiến.[96] Nevada được chỉ định làm “tọa độ chết”[97] cho thử nghiệm thứ nhất mang tên mã ‘Able’, sử dụng một vũ khí ném từ máy bay, và do đó nó được sơn một “màu vàng cam xấu xí”[98] nhằm giúp cho hoa tiêu có thể ngắm mục tiêu dễ dàng. Tuy nhiên, ngay cả với màu sắc tương phản rõ ràng, quả bom vẫn bị ném chệch mục tiêu đến 1.500 m (1.700 yard) và phát nổ bên trên chiếc hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Independence
.[98] Nevada cũng chịu đựng được cả thử nghiệm bom nguyên tử thứ hai mang tên mã ‘Baker’, một vụ nổ sâu dưới mặt nước 27 m (90 ft), nhưng nó bị hư hỏng và nhiễm xạ rất nặng.[64] Nevada sau đó được kéo về Trân Châu Cảng và được cho ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 8 năm 1946.[2]
Sau khi được khảo sát cẩn thận tại Trân Châu Cảng, chuyến đi cuối cùng của nó là vào ngày 31 tháng 7 năm 1948, khi thiết giáp hạm Iowa cùng hai tàu chiến khác[99] sử dụng chiếc Nevada như một mục tiêu để thực hành tác xạ.
Ba chiếc tàu chiến đã không thể đánh chìm chiếc Nevada, nên nó được ban một phát ân huệ cuối cùng là một quả ngư lôi phóng từ máy bay đánh trúng phía giữa tàu. Nevada chìm ở vị trí 97–105 km (60–65 dặm)[98] về phía Tây Nam Trân Châu Cảng.[
XEM VIDEO
THIẾT GIÁP HẠM USS NEVADA

BKTT

>> Xem Tiếp!

Wednesday, August 26, 2009

Bịnh mộng du

Mộng du là một bệnh lý của giấc ngủ có nguồn gốc thần kinh. Mộng du biểu hiện bằng những hành động khi đang ngủ chưa sâu. Mộng du có thể gây ra những hành động nguy hiểm cho bệnh nhân (đi khỏi nhà, nhảy qua cửa sổ), hoặc có thể gây nguy hiểm cho những người xung quanh(lái xe, hành vi bạo lực, thậm chí giết người khi đang cơn mộng du).
Người mộng du giống như đang thức, mở mắt, có khả năng làm theo mệnh lệnh hoặc trả lời câu hỏi có hoặc không. Người đang cơn mộng du rất khó chịu, thậm chí bực tức nếu hỏi họ nhiều quá, hoặc hỏi họ lâu. Khi đánh thức họ dậy, họ hơi lú lẫn một thời gian ngắn trước khi tỉnh lại. Khoảng 30% người mộng du phản ứng lại theo kiểu tấn công.
Người mộng du sau khi tỉnh lại họ không nhớ những gì đã làm, không nhớ là mình đã dậy trong đêm. Thời gian mộng du kéo dài từ vài phút đến 30 phút.
Sinh lý bệnh của Mộng du.
Mộng du thường xuất hiện trong suốt giai đoạn 3-4 của giấc ngủ, hay giấc ngủ sâu. Giai đoạn này tương ứng với 1/3 đầu của chu kỳ ngủ ( 2 gờ đầu sau khi ngủ).
Người mộng du có bất thường trong việc điều hoà sóng ngắn ( trên điện não đồ). Sự điều hoà này có liên quan đến hệ thống đồi thị-vỏ não, gây ra liệt cơ tự nhiên trong khi ngủ.
Vì vậy, hàng loạt sự kiện về vận động phức tạp có thể can thiệp vào mà đối tượng không hề hay biết. Mộng du không nguy hiểm, nhưng những hành vi vô thức có thể gây ra nguy hiểm.
Mộng du ở trẻ em
Thường gặp ở bé trai từ 7-12 tuổi, và thường biến mất khi trẻ dậy thì. Khi trẻ đi lại trong đêm, chúng thường đi tiểu ở những nơi không đúng qui định, nói tục mà trong trường hợp thông thường hàng ngày không có.
Mộng du ở người lớn
Có 10-20% người lớn mắc chứng mộng du, nổi bật ở một số nước (40% ở Thuỵ Điển). Người lớn, mộng du có thể có những nguyên nhân tâm lý ( nhất là ở giai đoạn stress), tâm thần hay liên quan đến việc dùng rượu. Mới đây có những nghiên cứu cho thấy, mộng du có yếu tố di truyền trên một gien đặc hiệu được phát hiện, là gien HLA BQB1*05. 50% người bị mộng du có mang gien này, đây là gien được giải thích có tham gia trong điều hoà hệ thống miễn dịch: gien này cho phép phân biệt được tế bào của cơ thể và tế bào bên ngoài.
Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu thêm nữa để xác định chính xác mối quan hệ giữa mộng du và gien này. Từ đó người ta tự hỏi, liệu mộng du có phải là một bệnh tự miễn hay không, nghĩa là gây ra do sai lệch chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể.
Triệu trứng
Mộng du đơn giản: người ta chia 2 trường hợp hành vi.
Trường hợp thứ nhất, trẻ em hoặc người lớn ngồi ngay trên giường vừa nói vừa có những động tác quờ quạng, thỉnh thoảng họ lại nói. Trường hợp thứ 2, người mộng du đứng dậy đi quanh quẩn trong phòng sau đó lại quay về giường ngủ tiếp. Người mộng du vẫn mở mắt, và cái nhìn của họ thẫn thờ. Nếu có ai đó nói chuyện với họ họ có thể trả lời chính xác, thậm chí có thể làm theo lệnh.
Nhưng người mộng du rất dễ bị kích thích, càu nhàu nếu chúng ta hỏi họ quá lâu. Đôi khi họ có thể làm những hành động như di chuyển đồ vật, bước xuống cầu thang, làm bể kính, lục tìm trong tủ lạnh, ăn uống, rửa chén, hay đi tiểu tiện ở một gốc nào đó, người lớn có thể lái xe hơi ra đường.
Trừ trường hợp này, loại mộng du này không nguy hiểm, diễn ra tối đa một lần mỗi tháng, kéo dài trong 10 phút. Mộng du có xu hướng biến mất trong vài tháng hoặc đến tuổi dậy thì. Nếu người mộng du có những hành động nguy hiểm đối với họ hoặc những người xung quanh chúng ta xếp họ vào loại 2.


Mộng du có nguy cơ: đây là dạng nặng hơn của mộng du đơn giản. Mộng du kéo dài hơn 10 phút và lặp đi lặp lại 2 – 3 lần/tuần, người mộng du có những hành động nguy hiểm. Chẳng hạn người mộng du có thể cầm dao, có những hành động bạo lực, có thể tự gây tổn thương cho chính họ và những người xung quanh, người mộng du có thể bị té ngã và họ có ý định trèo qua cửa sổ.
Loại thứ 3 của mộng du có tên là khiếp sợ: những cơn đầu tiên của người mộng du loại này có thể xuất hiện trước 6 tuổi hoặc sau 10 tuổi và kéo dài đến lứa tuổi dậy thì. Cơn khởi phát rất sớm sau khi ngủ. Ở trẻ em nhảy qua cửa sổ cao gấp 2 lần khi trong cơn mộng du. Người mộng du trong trạng thái vô thức và trong trạng thái khiếp sợ, họ có thể nằm tại chỗ không đi, hét rống lên trong đêm, nhịp tim tăng, nhịp thở tăng và hoạt động của cơ cũng tăng. Vỏ não của họ cũng đang trong giấc ngủ chậm và sâu, mộng du có thể xảy ra nhiều lần trong đêm.
Nguyên nhân của bệnh
- Stress : lo lắng, căng thẳng, trẻ em trong tiền sử gia đình hoặc sự kiện gây sang chấn
- Thiếu ngủ : trẻ em cũng như người lớn thiếu ngủ hoặc ngủ trễ, giấc ngủ bị đảo lộn, mất ngủ có thể làm tăng số lần và tính phức tạp của mộng du. Có nhiều trường hợp mộng du xảy ra trong giấc ngủ chập chờn hơn là giấc ngủ bình thường.
- Do bệnh tật : sốt, động kinh.
- Dậy thì, do những rối loạn ở trẻ trong lúc tăng trưởng có liên quan đến dậy thì.
- Do những chất độc : thuốc giảm stress, tâm thần, an thần, rượu, ma tuý.
- Đau nửa đầu (đặc biệt ở phụ nữ)
Điều trị
Là loại bỏ nguyên nhân gây ra, thiếu ngủ, stress, tránh bạo lực vào buổi tối, ngủ đúng giờ điều độ, môi trường ngủ thích hợp. Ngủ ở tầng trệt, đóng cửa sổ khi ngủ.
Nếu xảy ra nhiều cơn trong thời gian ngắn phải đến khám bác sĩ để được dùng thuốc benzodiazépines, diazepam, lorazepam để loại bỏ cơn bằng cách loại trừ giai đoạn ngủ sâu. Nhưng hiệu quả của thuốc có giới hạn do quen thuốc.

Bs. Phùng Hoàng Đạo

>> Xem Tiếp!

KẸO CAO SU

Xem VIDEO CUỐI TRANG
Kẹo cao su (còn gọi kẹo gôm hoặc kẹo sinh-gôm do phiên âm từ tiếng Anh chewing gum) là một dạng kẹo được thiết kế mềm để nhai mà không nuốt. Theo truyền thống, nó được làm từ nhựa cây chicle, một loại cây ở vùng Trung Mỹ. Tuy nhiên, ngày nay, vì lý do kinh tế và chất lượng nên kẹo cao su sử dụng chất polymer trên nền dầu mỏ thay cho nhựa cây chicle.
Lịch sử
"Kẹo cao su", với những dạng khác nhau, đã tồn tại từ xa xưa, ít ra là từ thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp nhai nhựa của cây nhũ hương
; còn ở Ấn Độ, phổ biến là cây trầu không (một loại cây chứa chất gây mê nhẹ);
trong khi đó, người Da đỏ lại nhai nhựa thông. Khoảng năm 1850, một loại nhựa được làm từ parafin phát triển nhanh chóng, và trở nên phổ biến, vượt trội hơn cả nhựa thông. Những loại kẹo cao su hiện đại đầu tiên được phát triển vào những năm 1860, khi nhựa cây chicle được nhập từ Mexico vào Mỹ để coi như một vật liệu mới bên cạnh cao su, nó không thể thay thế hoàn toàn cho cao su nhưng lại nhanh chóng thống trị thị trường. Nhựa cây chicle, và các loại nhựa cây tương tự được các công ty chuyên sản xuất kẹo cao su ưa chuộng vì có kết cấu mịn và mềm, giữ hương vị tốt.
Các dạng kẹo cao su
Ngày nay, kẹo cao su đạt đến sự đa dạng của hương vị. Không có kiểu kẹo cao su nào tiêu chuẩn, nó có thể được phát triển thành nhiều hình dạng, kích thước. Một số ví dụ gồm:
• Dạng tép: phẳng, mỏng.
• Dạng cuộn tròn: hình dạng tương tự như dạng tép nhưng dài hơn, vì thế nó được cuộn tròn lại bên ngoài một cái lõi.
• Dạng viên bao đường: thông thường được đóng gói trong giấy bạc.
• Dạng nhân mềm: bên trong có nhân ngọt.
• Dạng thổi bóng: độ dai cao, có thể thổi thành bong bóng.
• Dạng không đường: dùng để ăn kiêng.

Vấn đề bã kẹo cao su

Bã kẹo cao su dính rất chặt và chắc với bê tông và những bề mặt cứng khác, cần một nỗ lực rất lớn để loại bỏ chúng.
• Nếu bã kẹo dính vào tóc, có thể loại bỏ (ít ra là từng phần) với bơ đậu phộng hay dầu thực vật, bã còn có thể được hoà tan với những lại bột khác nhau. Một cách khác là đặt một túi nước đá trên vùng bị dính bã kẹo rồi lấy ra từ từ. Nếu dính ít, có thể cẩn thận lấy ra bằng lược có răng tốt.
• Nếu bã kẹo dính trên quần áo, có thể đặt vào tủ lạnh cho cứng rồi cạo chúng ra. Phần còn lại còn bị dính trên quần áo, trùm một cặp giấy lên đó và ủi.
XEM VIDEO CHẾ BIẾN KẸO CAO SU

>> Xem Tiếp!

Friday, August 21, 2009

Hãy đề phòng HIV ở Gas Station

*Duy Tường
Xin vui lòng đọc và chuyển đi cho mọi người lái xe. Tôi là Captain Abraham Sands của JacksonVille police, Florida, Hoa Kỳ. Được sự cho phép của Tiểu Bang Florida và Địa phương viết email này để báo động cho người lái xe về một sự kiện nguy hiểm đã xảy ra tại một số tiểu bang. Một người hay có thể nhiều người đã gắn ống kim chích thuốc ở dưới tay cầm bơm xăng! Những kim này bị nhiễm virus HIV.

Bạn hãy nhìn kỹ tay cầm đổ xăng trước khi bơm xăng Chỉ trong tỉnh Jacksonville đã có 17 lần xảy ra trong 5 tháng cho người đổ xăng bị đâm vào tay và tối thiểu 12 tiểu bang khác cũng xảy ra tương tợ, có thể họ bắt chước khi nghe được tin tức trên truyên thông báo chí. Cho tới nay chưa ai bị bắt hay bắt gặp kẻ gian là tối ưu tiên. Trong 17 người bị kim chích hiện có 8 người nhiễm HIV, những người còn lại có thể vài năm tới mới lộ ra.

Rõ ràng tai nạn xảy ra cho người đổ xăng và bị chích khi cầm bơm xăng có gắn kim độc.

Hãy nhìn kỹ bơm xăng từ trên xuống dưới trước khi bơm (ghi thêm: nhớ rửa tay sạch khi đi chợ, bơm xăng hay ăn tiệm...). Nếu bạn thấy kim ở bơm xăng, lập tức báo cho Cảnh sát địa phương để họ tìm kiếm bằng cớ.

Làm ơn để ý theo dõi kẻ gian và forward email này đến các người thân của bạn.

Rose Lambert
(Ký tên)

Important to know HIV at pump gas station

Warning: Look at the gas pump handle BEFORE you pump your gas. Please read and forward to anyone you know who drives a car.

My name is Captain Abraham Sands of the Jacksonville , Florida , Police Department. I have been asked by state and local authorities to write this email in order to get the word out to car drivers of a very dangerous prank that is occurring in numerous states. Some person or persons have been affixing hypodermic needles to the underside of gas pump handles! These needles appear to be infected with HIV positive blood.
In the Jacksonville area alone, there have been 17 cases of people being stuck by these needles over the past five (5) months. We have verified reports of at least 12 others in various states around the country. It is believed that these may be copycat incidents due to someone reading about the crimes or seeing them reported on television.

>> Xem Tiếp!

Thursday, August 20, 2009

Predator: Vũ khí mới, Chiến thuật mới

Thứ sáu ngày 7/8/2009 ; tin tức cho biết máy bay của CIA vừa dùng hỏa tiển bắn ha. Thủ lảnh Baitullah Mehsud của Taliban tại Pakistan. Trong vòng 6 tháng nay , CIA đã bắn hạ 12 trong số 20 thủ lảnh của Al-qaeda và Taliban tại vùng núi ranh giới giửa Afganistan và Pakistan. Cái gì đả giúp cho CIA chiến đấu hiệu qủa như vậy .?

Chiến dịch Predator của CIA
Vủ khí mới đây là loại máy bay không người lái UAV ( Unmanned Arial Vehicle ) .
Hiện nay nước sản xuất máy bay loại này tân tiến nhất là Do Thái .UAV của Do Thái tên là Drone ( Drone là tên 1 loại ong mật )Mỷ và Nga đều mua phần lớn máy bay Drone của Do Thái .
Mỷ có yêu cầu Do Thái đừng bán loại Drone tối tân nhất cho Nga ! Và cảnh cáo , Nga sẻ làm hàng nhái Drones dể bán cho các nước Trung Dông kẻ thù Do Thái .
Trong chiến trang năm ngoái với Georgia , Nga đả bị thua thiệt vì Georgia xủ dụng Drones nên thám sát và tấn công Nga hiệu quả hơn .
Trong lúc đó Nga củng có UAV tuy nhiên theo tướng Nga ... cho biết UAV của Nga bay ồn qúa , xa 5Km đả nghe rồi nên không hiệu quả.
.Kỳ này Nga đả ký giao kèo mua 12 Drones của Do Thái với giá 53 triệu Đô ( 10 chiếc nhỏ và 2 chiếc lớn )
Theo tướng Nga cho biết mục đích mua lượng máy bay Drones này chỉ để cho các hảng máy bay của Nga xem và biết thế nào là máy bay gián điệp . Sau đó sẻ tự sản xuất .

UAV là gì ?
UAV là máy bay không người lái . tự điều khiển hoặc được điều khiển từ xa .
Để phân biệt với các loại Hỏa tiển có điều khiển , UAV có thể thâu hồi và xử dụng nhiều lần như máy bay .
Có rất nhiều loại UAV cở khác nhau . Loại chỉ dùng để thám thính , loại có trang bị vủ khí ( Hỏa tiển , Bomb...) dùng để tấn công .

Thời gian bay trên trời không cần tiếp tế từ 12 tiếng đến 30 tiếng .
Do thái đả dùng Drones từ 1980 ; cả trong thám thính và tấn công .
Loại Drones
mới nhất dược Do Thái sản xuất rất nhỏ , lính trận có thể mang theo và không ảnh dược truyền xuống trên màn ảnh giống dồng hồ mà lính trận mang trên cổ tay .

Trong chiến tranh Afghanistan phi đạo Drones thì gần trong vùng . ( thật ra căn cứ của Drones ngay trên đất Pakistan .Giới tre? Pakistan dả dùng Google Earth tìm ra căn cứ này và kết án Mỷ dùng căn cứ ngay trên đất nước Pakistan để giết người dân Pakistan .)

Căn Cứ Drones ở Pakistan
Các hoạt động của CIA tại các khu của loạn quân là chiêu mộ bằng cách trả tiền cho người dịa phương ,và phiến quân dể gắn các Tag vào các căn cứ lui tới của các thủ lảnh .
Thường 1 Tag , CIA trả 120 dô , và nếu cuộc oanh tạc có kết qủa hoặc sát hại dược các yếu nhân của loạn quân thì tiền thưởng lên nhiều ngàn dô.
Tuy nhiên Control Room thì phần lớn ở ngay trên đất Mỷ cách xa vùng hoạt động của Drones 7000 đến 8000 miles .
Khi Drone bay trên vùng hoạt động , nhiều máy ảnh trên Drones đả chụp không ảnh liên tục gởi về Control room qua vệ tinh .
Vì thế hình ở Control room là thực tế ngay tức khắc ( có delay time - seconds -)
Tại Control room có 1 phi công ( sỉ quan cấp tá , thường là cựu phi công chiến đấu ) điều khiển Drones và 1 quan sát viên ( Sensor operators ) điều khiển hỏa tiển đến trúng mục tiêu . Cả 2 người ngồi trên 2 màn hình cạnh nhau .
Khung cảnh hoạt động chẳng khác nào các cậu bé chơi Games .

Tuy nhiên họ đều than phiền là công việc đả ám ảnh thần kinh của họ còn hơn khi họ thực sự đi oanh tạc chiến đấu ; vì khi đi oanh tạc họ không trực tiếp thấy hậu quả , còn dùng Drones họ phải ở lại quan sát chi tiết kết quả , người bị thương ,bị chết rỏ ràng ...
Rồi chỉ trong giờ sau lại phải về nhà sinh hoạt bình thường với vợ con ....

Tác dụng ngược
1/ Loạn quân và các thủ lãnh bộ lạc của Afghanistan đều cho rằng lính Mỷ hèn nhát không dám trực diện chiến đấu với họ mà ẩn náu , trốn tránh đánh trộm . ( Drones thường bay trên độ cao 7000m , dưới dất không nghe , không thấy )
2/ Pakistan củng đã than phiền Mỷ không tôn trọng chủ quyền , hành xử bắn phá trên dất Pakistan . Trong 6 tháng qua dả có hơn 600 người bị giết (có thể trong dó có 1/3 là phiến quân ) . Pakistan đả cảnh cáo , và nay sẻ hành động , đang thực tập xử dụng hỏa tiển dể bắn rơi Drones .
(Militaty Subject)


>> Xem Tiếp!

Trái gấc và công dụng của nó

Cây gấc tên khoa học: Monordica cochinchinensis (Lour.) Spreng
Thuộc họ bầu bí: CucurbitaceaeLá xanh biếc, to bằng bàn tay và xòe kiểu chân vịt. Bên cạnh cuống lá có mọc “tay leo” giống dây bí hay dây mướp, dễ cuốn vào cọc hay cây.Hoa mọc ở nách lá, sắc trắng hình loa kèn, đài sắc xanh. hoa đực và hoa cái mọc cùng trên một dây, cũng có khi có cây chỉ có hoa đực hoặc chỉ có hoa cái.
Cây Gấc phát triển mạnh về mùa mưa. Đến mùa đông sau khi quả đã chín hết, lá rụng, những dây nhỏ cũng khô héo hết, đến giữa mùa đông năm sau lại đâm chồi nảy lộc.
Mùa thu hoạch ở miền Bắc là cuối đông, trước và sau tết Âm lịch, còn ở miền Nam thì có quanh năm.
Trên thị trường thường phân biệt một loại Gấc nếp và Gấc tẻ:
- Gấc nếp: Trái to, nhiều hạt, gai to, ít gai, khi chín chuyển sang màu đỏ cam rất đẹp. Bổ trái ra bên trong cùi (cơm) vàng tươi, màng đỏ bao bọc hạt có màu đỏ tươi rất đậm và dày thớ.
- Gấc tẻ :Trái nhỏ hoặc trung bình vỏ dày tương đối có ít hạt, gai nhọn, trái chín bổ ra bên trong cơm có màu vàng nhạt và màng đỏ bao bọc hạt thường có màu đỏ nhạt hoặc màu hồng không được đỏ tươi đậm như gấc nếp, nên chọn giống gấc nếp để có trái to nhiều nạc bao quanh và phẩm màu cũng tốt hơn

Gấc không chỉ là cây thực phẩm quý mà còn là cây dược liệu quý. Từ màng đỏ bao quanh hạt gấc, với công nghệ hiện đại đã chiết ra được dầu gấc. Dầu gấc có chứa β-caroten (Cao gấp 15,1 lần cà rốt, 68 lần cà chua), lycopen, α-tocopherol là các chất chống oxy hóa mạnh. Ngoài ra còn chứa các chất béo thực vật, các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể.
Tác dụng: Tăng khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống oxy hóa, chống lão hóa tế bào... Đặc biệt, phòng và điều trị một số bệnh ung thư.

2. Kỹ thuật trồng gấc, chăm sóc và thu hái
2.1. Chọn giống
Có thể trồng bằng hạt hoặc trồng băng hom.
- Nếu trồng bằng hạt: Cần chọn trái lấy hạt ở những cây có trái to, sai trái, đợi cho trái chín đỏ hoàn toàn mới cho hái trái và nên để cho trái chín rực thêm vài ngày sau đó dùng tay bóp lấy hạt. Trước khi gieo thì cần chà rửa thật sạch lớp nhớt bọc quanh vỏ hạt để hạt dễ nẩy mầm.
Hạt: Ngâm hạt trong dung dịch axit sunfuric 10% trong khoảng 24h cho vỏ hạt mềm gieo dễ nảy mầm hơn. Hoặc ngâm hạt trong nước ấm khoảng
55 – 60 oC trong thời gian 10 – 12h cũng cho tỷ lệ nảy mầm cao.
Sau khi ngâm , ươm hạt trong bầu đất cho hạt nảy mầm. Khi cây con cao khoảng 20cm sẽ đem trồng vào các hố đã chuẩn bị sẵn.
Trồng bằng hạt sẽ cho cả cây đực và cả cây cái, nhưng chỉ cây cái mới có quả. Do đó nên trồng bằng hom.
- Chọn giống bằng hom: Gấc cũng có thể trồng bằng cách nhân giống vô tính bằng cách giâm. Chọn những cây mẹ sai quả, quả to, chín đẹp làm cây lấy hom giống. Chọn dây gấc bánh tẻ cắt thành từng đoạn dài 30 – 40cm (gọi là hom). Mỗi hom phải có từ 2 – 3 đốt trở lên.

Ươm cành: 2 cách
Cách 1: Cắt bằng đầu, bôi vôi hai đầu, đem giâm xuống khu vực cát ẩm. Chú ý: Đầu gốc cắm sâu xuống đất khoảng 10 – 15cm, đặt nằm nghiêng và lấy tay nén quanh gốc cho chặt, đầu ngọn hướng lên trên.
Cách 2: Cắt bằng đầu, bôi vôi hai đầu, đem giâm trong bầu. Bầu có thể là túi nilong, trong chứa đất bột trộn với lượng nhỏ phân chuồng ủ mục và trấu thóc để tăng độ xốp. Mỗi bầu có thể giâm được 3 hom gấc. Bầu đặt tại nơi có bóng mát hoặc có mái che. Bảo đảm đủ nước tưới thường xuyên, giữ ẩm và che bớt nắng trong thời gian ban đầu cũng như chỗ đất giâm cành cần phải được thoát nước tốt. Khoảng 2 – 3 tuần chồi sẽ mọc, đem trồng ở hố đã chuẩn bị sẵn.

2.2. Chọn đất trồng, đào hố và bón lót.
Gấc không kén đất, trồng ở đâu cũng sống. Nhưng để có năng suất cao nên chọn đất tốt (đất phù sa), thoát nước. Cuốc xới để ủ nơi định trồng với khoảnh đất khoảng 1m2, sâu độ 40 – 60cm. Trộn 20 – 30kg phân ải với đất mịn cho một hố..
Bón lót: 0,5 – 0,6kg super lân hoặc apatit, 30 – 50 gram Furadan 3H hoặc Basudin 10 H để ngừa sâu bọ phá hại rễ, cần phải bón vôi từ 300 gram đến 1 kg vôi/hố nếu đất quá chua. Vôi cần phải trộn đều với đất ở đáy hố trước khi bón phân hữu cơ. (Trong trường hợp bón phân tơi xốp trồng đơn giản chỉ cần đào rãnh rộng 0,5 - 0,6 m sâu 0,4 – 0,5 m bón lót phân chuồng (super lân) để trồng hoặc phân rác hoại mục có trộn thêm super lân để trồng.)
Nếu trồng bằng hạt thì mỗi khoảnh đất như trên trồng 3 mầm gấc (hoặc 3 hom gấc) cách nhau trên một hình tam giác đều mỗi cạnh 40cm, mỗi góc để một cây. Theo dõi trong cả năm, cây nào có nhiều quả để lại. Có khi cả ba cây cùng tốt, nghĩa là có nhiều hoa cái và quả, khi đó cũng chỉ nên đểmột cây, đánh hai cây kia đi trồng ở chỗ khác.
Trồng trong gia đình: Tận dụng đất, trồng gấc sát cạnh hàng rào, bên gốc cây đa, ở bờ ao hay gốc bờ tre...hoặc các cây nào đó làm cọc cho gấc leo cao.
Trồng kinh tế: Chọn địa điểm, chọn đất có điều kiện thuận tiện và làm giàn cho gấc leo. Gấc ưa đất mát, bằng phẳng, tiện sông, suối để lấy nước tưới. Gấctrồng thành từng hàng thẳng, mỗi cây cách nhau khoảng 4 – 6m và hàng nọ cách hàng kia khoảng 5m.

2.3. Thời vụ trồng
Miền Bắc: Nên trồng vào tháng 2 – 3 dương lịch.
Miền Nam: Trồng vào đầu mùa mưa, nơi đất ẩm, sẵn nước tưới.
Thời gian đầu gấc phản ứng rất nhạy đối với độ ẩm của đất, qua vài trận mưa rào nó phát triển rất nhanh, ta phải làm giàn cho nó khỏi bò xuống đất. Kinh nghiệm là để gấc bò dưới đất thì quả rất ít và hay thối.

2.4. Làm giàn leo cho gấc
Trồng gấc cũng như trồng mướp, trồng bầu, cần phải đào hố hoặc đào rãnh trồng và làm giàn cho dây gấc leo mới có nhiều trái. Trong sản xuất gia đình cũng có thể cho gấc bò lên các cây thân gỗ trong vườn đã bị chết khô hoặc bò phủ tán các cây thân mọc còn sống nhưng năng suất không cao, dây gấc leo càng cao thì càng ít quả,… cho leo ngang quả nhiều hơn.

Trồng tập trung cần chú ý:

Tìm hướng cho hàng gấc để tránh gió bão làm đổ, tùy từng địa phương và địa hình, địa vật. Làm giàn hoặc làm giậu làm sao để hướng gió đi vào giữa hai giậu gấc.
- Cách làm giậu (đối với vùng đất đồi núi): Trên một đường thẳng theo hướng gió đã chọn, trồng những cây để làm cọc (như cây gạo, phượng, tre, bưởi,...), cách 3m trồng một cây. Năm đầu và năm thứ hai có thể đóng cọc xen những cây đó để làm giậu. Năm thứ ba những cây kia lớn sẽ thay thế cho cọc. Khi cây gấc phát triển mạnh phải chặt ngọn các cây trồng làm cọc chỉ để phần thân cây cao bằng với tay người lớn.
- Làm giàn: Giàn có thể dựng bằng các cây tạp, tre nứa hoặc cột bê tông. Bên trên gác các cành tre hoặc đan bằng dây thép. Một số nơi (Quảng Trị, Đà Lạt...) thường dùng dây cước một sợi (đường kính dây khoảng 2mm) đan thành lưới (kích thước mắt lưới: 30cm × 30cm), sau đó căng lên giàn. Giàn bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được từ 3 – 5 năm.
2.5.Kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
Chăm sóc cây gấc: Khi cây mọc dài khoảng 30 – 40cm, theo dõi bắt ngọn leo vào giậu hoặc lên giàn và thường xuyên bắt các ngọn phân tán đều trên giàn; kiểm tra các gốc xem gốc nào có nhiều quả để sau năm thứ nhất giữ lại.
Cuối mùa hoa, cắt bớt các giậu con cụt không có hoa để giậu được nhẹ bớt và nhựa cây tập trung nuôi quả.
Thường xuyên làm cỏ, xới nhẹ đất quanh gốc cách gốc 25 – 30cm để kích thích rễ gấc phát triển.
Bón phân: ngoài lượng phân bón lót, mỗi năm vào đầu, giữa và cuối mùa mưa nên bón thúc thêm mỗi hố 30 – 50 gram phân hỗn hợp NPK (16 –16 – 8) hoặc phân NPK (20 – 20 – 15) để cây sinh trưởng mạnh cho nhiều trái, trái to. Có thể đào rãnh rộng 10cm sâu 10cm hình vành khăn cách gốc 25 – 30cm bón phân vào rãnh rồi lấp đất lại hoặc rải đều phân lân lên mặt đất cách gốc 25 cm rồi dùng cuốc xới nhẹ lấp phân. Xếp cỏ khô, rơm rạ lên mặt để giữ ẩm và chống rửa trôi.
- Tưới và thoát nước: Cây gấc cần đất đủ ẩm nhưng rất sợ úng do đó phải tưới đủ nước và thoát nước ở gốc cây cho tốt.
- Cây gấc cần nước nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa và phát triển trái. Thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm hoa rụng, trái phát triển kém, năng suất thấp.
- Độ ẩm thích hợp để trồng gấc là 70 – 80% độ ẩm tối đa.
Ngoài các biện pháp chăm sóc bón phân, tưới đủ nước trong giai đoạn cây ra hoa phát triển trái, kỹ thuật phun một số chất kích thích tốt trong giai đoạn cây còn nhỏ có 1 – 2 lá thật cũng làm tăng số hoa cái trên cây. Các hóa chất thường dùng là NAA (( Naphthalen acetic acid) phun ở nồng độ 25 – 100 ppm (phần triệu) hoặc MH (Maleic Hydrazide) phun ở nồng độ 100 – 150 ppm (phần triệu) cũng đều cho kết quả tốt.
- Thụ phấn nhân tạo: Gấc là cây lưỡng tính: hoa đực và hoa cái cùng trên một dây, hoặc trên các dây của cùng một gốc. Việc thụ phấn nhờ gió, sâu bọ, ong bướm,...Để tăng năng suất, người ta thụ phấn nhân tạo. Một trong những cách làm hiệu quả đó là dùng bông ướt lấy phấn trên đầu nhị của hoa đực bôi đều lên đầu nhụy của hoa cái vào thời điểm hoa đực và hoa cái đã nở đều.
Trong điều kiện thời tiết bình thường sau khi hái trái gần xong vào khoảng cuối tháng 2 dương lịch và các tháng mùa khô ở miền Nam (tháng 11 – 12 dương lịch) cây gấc đã rụng lá gần hết dùng dao hoặc rựa bén hay kéo cắt cành chặt hoặc cắt dây gấc đi chừa lại một đoạn gốc dài 40 – 60 cm trên mặt đất, sau đó đào hố hình vành khăn rộng 20 cm sâu 10 cm cách gốc 25 – 30 cm bón phân rồi lấp đất lại và tưới nước để gốc tái sinh chồi mới. Mỗi năm cắt dây 1 lần; sau 3 – 4 năm gốc gấc rất to sẽ cho nhiều trái nếu chăm sóc tốt.

Các loại sâu hại gấc: Hiện nay đã phát hiện nhiều loại sâu bệnh phá hại cây gấc cần phòng trừ.
* Sâu hại:
- Bọ dừa (Ceratia similis) bọ cánh cứng dài 8 mm cánh màu vàng ăn phá hại lá gấc, phòng trừ bằng cách xịt các loại thuốc như vibaau 50ND pha 25 cc/bình 8 lít xịt đều trên lá.
- Rầy mềm (Aphid gossypii) bu mặt dưới lá hút nhựa, xịt Decis hoặc Vicidi M 50ND 20 – 30cc/bình 8 lít.
Để diệt bọ dừa, rầy mềm và bọ xít hại quả có thể dùng thuốc Terkill 10EC, liều lượng pha 10gram/10lit nước phun trên mặt lá và phía dưới giàn.
- Nhện đỏ (Tetronychidea) tập trung nhiều ở mặt dưới lá thường thấy trong mùa nắng làm lá úa vàng, xoắn lá, dây gấc mọc cằn cỗi phòng trừ bằng cách phun xịt Kelthane hoặc Kerathane hay Tedion đều trên lá.
- Ruồi trái cây (Dacus cucurbitae) phá hại nặng khi dây gấc có trái. Ruồi chích trái đẻ trứng ấu trùng phát triển phá vỏ trái làm thối trái, trị bằng cách phun xịt dung dịch Oncol hoặc Ofunack 1/300 – 1/500 vệ sinh lượm đốt bỏ các trái gấc thối rụng.
- Sâu xanh ăn hại lá gấc: Dùng thuốc Padan 95SP, liều lượng pha 10-15gram/10lit nước phun vào buổi chiều mát.
* Bệnh hại:
- Bệnh đốm lá (Downy mildew) do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây bệnh lá gấc bị bệnh mặt trên có nhiều chấm vàng, mặt dưới có các chất xám sau đó lá chết héo. Dây gấc bị bệnh phát triển kém không cho trái hoặc cho ít trái, trái nhỏ phẩm chất kém, phòng trị xịt dung dịch Benlate C, hoặc Rovral, Vibensu 4%o (phần ngàn) lên lá.
- Bệnh cháy lá (Anthracnose) do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây bệnh. Lá gấc bị bệnh cháy thành đốm hoặc cháy khô cả lá phòng trị giống như bệnh đốm lá.
- Bệnh hoa lá (Mosaics) do virus (CMV) gây bệnh lá gấc bị bệnh thường bị đốm vàng xoắn lá dây mọc còi cọc không cho trái, bệnh do cực vi trùng gây ra không có thuốc trị, phòng trừ bằng cách nhổ bỏ phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm truyền bệnh cũng giảm bớt bệnh.
- Bệnh tuyến trùng (Nematode) : Tuyến trùng Meloidogyne spp làm rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hại trông còi cọc phát triển kém, vàng cho trái hoặc không cho trái. Phòng bằng cách rải một hố 30 gram Furadan 34 hoặc 20 gram Mocap khi gieo hạt hoặc trồng cây con.
3. Quy trình thu hái gấc
Gấc ra hoa vào đầu tháng 6; bắt đầu có quả vào tháng 7, tháng 8 dương lịch và chín kéo dài bắt đầu từ tháng 9 cho đến tháng 2 năm sau. Năm nào mưa ít, quả gấc chín sớm, mưa nhiều chín muộn (tháng 10). Gấc là loại quả chín không đồng đều, có thời gian thu hoạch dài ngày. thời gian thu hoạch quả gấc cần chú ý những điểm sau:
Chỉ nên thu hái gấc khi quả đã chín đỏ (đỏ đến 1/2 quả). Màng đỏ bọc ngoài hạt dày và có nhiều chất béo sẽ chiết tách được nhiều dầu và caroten. Khi hái nên chọn những ngày nắng. Dùng dao sắc hoặc kéo bén cắt cuống trái chừa một đoạn dài 8 – 10cm. Dưới đáy sọt cứ một lớp quả lại để một lớp rơm rạ giữ cho quả gấc khỏi bị vỡ bẹp, nhất là khi vận chuyển đi xa. Trước khi sử dụng trái gấc cần được tồn trữ nơi thoáng mát.

- Yêu cầu thu mua: Quả gấc phải chín đều , không dập náp, thối hỏng...,không chín ép, không giấm. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên.

Gấc là loại cây sống lâu năm (15 – 20 năm), rụng lá về mùa đông. Khi thu hoạch xong cắt bỏ toàn bộ thân cành, chỉ để lại 30 – 50cm gốc. Đến vụ xuân từ gốc sẽ mọc lên cây mới.
Trên đây là một số điểm chính về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Gấc.

(tka23 post)Cây gấc tên khoa học: Monordica cochinchinensis (Lour.) Spreng thuộc họ bầu bí: CucurbitaceaeLà một loại dây leo, mọc bò trên các giàn, bờ rào, bụi tre, sống khá lâu. Trước đây, gấc là loại cây hoang dại mọc nhiều vùng ở nước Á châu, được dân ta chọn lọc đem về trồng từ lâu.

>> Xem Tiếp!

Friday, August 14, 2009

Giặt ủi khô

*Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Giặt quần áo ở nhà với máy giặt thì ta dùng nước và xà bông để làm sạch quần áo. Tuy nhiên, có nhiều mặt hàng như tơ lụa, bông sợi không giặt với nước được. Và ta nghĩ đến việc đưa đi “dry cleaning”. Gọi là “dry” nhưng thực ra chỉ có nghĩa là không ngâm ướt trong nước lã mà ngâm trong một dung dịch hóa chất.
Khi đưa quần áo cho tiệm giặt, ta cũng thắc mắc không hiểu bộ đồ quý của mình được chăm sóc như thế nào. Thì đây là diễn tiến:
-Quần áo sẽ được nhận diện qua nhãn hiệu, tên thêu để tránh lầm lẫn với hàng của người khác;
-Coi có mất khuy, rách xước ở đâu đó kẻo khi giao hàng lại bị mắng vốn là cẩu thả.
-Nhìn coi có vết dơ dầu mỡ, thực phẩm, để tẩy gội trước khi cho vào máy có dung dịch hóa chất để giặt.
-Sau khi giặt, nhân viên cũng coi lại xem còn vết dơ nào không rồi là ủi phẳng phiu, treo lên móc, bọc trong túi nhựa, sẵn sàng trao trả khách hàng.
Phương Pháp Giặt Khô
Khám phá ra phương pháp Giặt Khô (Dry Cleaning) cũng là chuyện tình cờ của ông thợ nhuộm người Pháp tên là Jean Baptiste Jolly vào năm 1855.
Số là cô gái giúp việc vô ý làm đổ ngọn đèn dầu hôi lên tấm khăn phủ bàn ăn trắng tinh. Khi mang đi giặt ông chủ thấy chiếc khăn sạch sẽ hơn vì chất dầu của đèn đã tẩy sạch các vết mỡ trên khăn. Từ nhận xét đó ông ta nghiên cứu thêm và đưa ra phương pháp giặt khô bằng hóa chất hòa tan mỡ béo.
Nói là giặt khô nhưng thực ra quần áo mà ta vừa giao cho tiệm giặt được nhúng vào một dung dịch hóa chất.
Thoạt kỳ thủy, người ta dùng dầu hôi và dầu xăng rồi đến các chất tổng hợp bốc hơi như tetrachloride và trichlorethylene. Ngày nay, 90% các tiệm giặt khô đều dùng hóa chất tổng hợp Tetrachloroethylene hoặc perchlorethylene, viết tắt là PERC.
Chất này được sử dụng rất nhiều trong việc giặt khô các hàng may mặc, vải vóc cũng như tẩy dầu mỡ trên dụng cụ bằng kim loại.
Theo nhiều chuyên viên trong nghề, PERC an toàn nếu dùng đúng cách.
Máy giặt cũng giản dị không choán nhiều chỗ, quần áo sạch hơn và thời gian giặt cũng mau hơn. Bộ phận giặt và vắt khô cũng như hóa chất đã dùng đều thu gọn trong một máy. Như vậy tránh được việc phế thải hóa chất ra hệ thống cống rãnh, gây ô nhiễm môi sinh.
Hóa Chất PERC
Dưới nhiệt độ bình thường, PERC ở trạng thái lỏng không bắt lửa nhưng cũng rất dễ bay hơi và hòa lẫn trong không khí. Nhiệt độ càng lên cao thì sự bốc hơi càng mạnh và tạo ra một mùi khó chịu giống như chất ether.
Hóa chất này xâm nhập môi trường bằng bốc hơi trong không khí khi được sử dụng trong kỹ nghệ hoặc ngấm vào đất, nước khi thất thoát từ máy giặt hoặc từ thùng chứa. Trước đây, các tiệm giặt ủi khô được phép xả nước dơ từ máy giặt vào hệ thống cống rãnh địa phương.
Theo chính quyền, tới 25% nước uống tại Hoa Kỳ bị nhiễm PERC. Mỗi năm có cả 200 triệu cân Anh PERC được gần 35,000 tiệm giặt ủi ở nước Mỹ dùng mà một số lớn hòa lẫn trong không khí cũng như vùng đất, nước chung quanh

Một số vật liệu gia dụng cũng có PERC như dung dịch không thấm nước xịt trên gỗ (Water repellent), hóa chất tẩy vết dơ, băng dính, hóa chất chùi gỗ.
Trong y học, PERC được dùng làm thuốc mê khi giải phẫu bệnh nhân vì nó làm bệnh nhân bất tỉnh. Ta có thể đo số lượng hơi PERC trong hơi thở, giống như đo hơi rượu ở người say.
PERC Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe
Theo Cơ Quan An Sinh Nghề Nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH), có khoảng 650,000 công nhân tiếp cận với hóa chất này ở nước Mỹ trong nghề giặt ủi khô. PERC có thể xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp và qua lớp da. Số lượng hóa chất xâm nhập tùy theo:
-Thời gian ta tiếp cận với chúng;
-Hóa chất có nhiều hoặc ít trong không khí,
-Ta thở nhanh hay chậm, mạnh hoặc yếu trong không khí ô nhiễm PERC.
Từ cơ thể, hầu hết hóa chất thải ra bằng đường hô hấp và một số nhỏ trong nước tiểu.
Khi được dùng đúng cách, PERC tương đối an toàn. Tuy nhiên hóa chất này cũng có nguy cơ gây ra một số rủi ro cho sức khỏe.
Tác dụng không tốt thường thấy của PERC là: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn; làm suy nhược hệ thần kinh trung ương; tổn thương cho gan, thận; giảm trí nhớ thoảng qua, mất định hướng; dị ứng và ngứa mắt, mũi, cuống họng; da khô, viêm.
Chuyên gia C Rotilio đã nêu ra trường hợp một nữ công nhân giặt ủi bị giảm thị giác vì hít thở hơi PERC quá lâu khi bà ta ủi quần áo giặt với PERC. Tác giả TL Vaughn đã thấy có hậu quả của PERC với ung thư miệng, cuống họng.
Từ lâu, PERC đã được coi như chất gây ung thư cho súc vật và mới đây hóa chất này đã được xếp vào loại có thể gây ung thư cho loài người.
Viện Quốc Gia Hoa Kỳ về An Toàn và Sức khỏe Nghề Nghiệp đang nghiên cứu thêm về ảnh hưởng gây ung thư này của PERC.
PERC được sếp vào nhóm 2B, có nghĩa là có khả năng gây ung thư cho người. Nước uống có lẫn PERC đã được thấy trong ung thư máu, tụy tạng, cổ tử cung và bọng đái.
PERC cũng có ảnh hưởng không tốt cho sự sinh đẻ và kinh nguyệt của phụ nữ. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ làm trong tiệm giặt khô có nhiều nguy cơ bị hư thai. PERC cũng lan vào sữa mẹ.
Ngoài ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của nhân viên làm trong nhà giặt, PERC còn mang rủi ro cho dân chúng sống gần tiệm giặt cũng như môi trường xung quanh. Do đó nhiều quốc gia đã ban hành biện pháp để giảm thiểu các rủi ro này. Theo Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC), 75% dân chúng của quốc gia này đã có mức PERC khá cao trong máu.
Trong khi đó, cơ Quan Bảo Vệ Mội Trường (EPA) cho hay nhân viên làm trong tiệm giặt khô có nguy cơ bị ung thư theo tỷ lệ 1/1000. Người sống trong cơ sở có nhà giặt khô có nguy cơ ung thư 1/2000 hoặc cao hơn nếu máy giặt không được bảo trì chu đáo. Nghiệp Đoàn Người Tiêu Thụ (Consumers Union) ước lượng rằng cứ 1 trong 7000 người mặc quần áo giặt khô với PERC một lần trong một tuần suốt 40 năm sẽ có nguy cơ ung thư.
Phòng Ngừa rủi ro vì Hoá Chất PERC
Hiện nay đã có nhiều cải tiến các máy giặt ủi, giảm thiểu rủi ro trong dịch vụ này nhưng đôi khi quá tốn kém nên các tiệm giặt nhỏ không đủ tài chánh để trang bị. Và họ vẫn tiếp tục dùng PERC. Họ cho rằng PERC không gây nhiều rủi ro cho sức khỏe nếu biết dùng đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất. Giới giặt khô cũng đã ngồi lại với nhau để chống lại việc cấm dùng PERC trong nghề nghiệp của họ.
Để khuyến khích tiệm giặt ủi nhỏ, chính quyền vài tiểu bang Hoa Kỳ đã giảm thuế, cho họ vay tiền để trang bị máy giặt ít rủi ro. Đó là vì nhu cầu khách tiêu thụ vẫn phải đưa quần áo cho tiệm giặt khô, vì tiện lợi, đưa đồ ngày trước ngày sau lấy lại được. Nhưng khi biết được rủi ro do PERC gây ra, chắc ta cũng cần suy nghĩ lại trước khi bỏ tiệm giặt khô
Ta có thể, tránh rủi ro do PERC bằng cách:
-Không mua nhiều quần áo “chỉ giặt khô” (Dry clean only);
-Tìm hiểu xem quần áo “chỉ giặt khô” có thể giặt bằng xà bông và nước được không;
-Bỏ giặt quần áo ở tiệm giặt bằng nước;
-Sau khi lấy quần áo giặt khô về nhà thì vứt bỏ túi bọc nylon, treo quần áo nơi thoáng khí để hơi PERC bay đi trước khi mặc.
-Giới tiêu thụ cần thảo luận với tiệm giặt khô, đề nghị họ thay đổi cách giặt để tránh rủi do cho sức khỏe vì PERC.
-Với tiệm giặt thì cần có trang bị máy móc để thanh lọc không khí và điều hòa nhiệt độ nơi làm việc để nhân viên không phải hít thở không khí ô nhiễm PERC. Các máy này thực ra không thể loại bỏ hơi nguy hại PERC nhưng cũng đưa một số hơi ra khỏi nơi nhân viên làm việc. Máy phải được thiết bị ngay tại nguồn phát ra hơi PERC.
-Ngoài ra, để tránh các rủi do nghề nghiệp trong việc giặt ủi, cơ quan an toàn nghề nghiệp của chính quyền cũng đề ra các quy luật cho ngành nghề này.
-Cơ quan đặt ra mức độ PERC trong không khí và nước không được vượt quá một tỷ lệ nhất định; ;
-Nhân viên phải thay phiên làm việc, có thời gian nghỉ để tránh làm những công việc có thao tác lập đi lập lại quá lâu;
-Dụng cụ nâng đỡ bàn ủi để công nhân khỏi phải cầm nhấc bàn ủi liên tục;
-Thay đổi chiều cao của bàn làm việc để nhân viên khỏi phải với lên quá cao.
-Các động tác nhắc đi nhắc lại liên tục và lâu này có thể đưa tới tổn thương cho bắp thịt và khớp xương.
Phương Pháp Giặt Thay Thế
Hai phương pháp giặt có khả năng thay thế cho giặt khô với PERC hiện đang được sử dụng là loại giặt ướt và giặt với hoá chất từ dầu mỏ.
Giặt-Ướt
Trong phương pháp này, quần áo được ngâm giặt trong nước có pha xà bông không độc hại và hóa chất tẩy vết dơ dầu mỡ. Phương pháp wetcleaning này hiện nay được thông dụng ở nhiều nơi vì nó:
-Giảm thiểu được ô nhiễm môi trường với hóa chất PERC ;
-Quần áo có mùi tự nhiên thơm hơn;
-Giảm rủi ro cho sức khỏe;
-Tiết kiệm chi phí vì máy giặt-ướt rẻ hơn;
-Nhiều nghiên cứu cho hay giặt-ướt có thể dùng thỏa đáng cho từ 30% dến 70% hàng được ghi là chỉ giặt khô.
Tuy nhiên giặt nước vẫn có vài trở ngại như:
-Hàng tơ lụa, bông sợi dễ bị phai màu, co giãn, nhăn nheo và mất hình dáng bình thường;
-Quần áo bằng tơ sợi thiên nhiên thì thung giãn nhiều hơn hàng tổng hợp;
-Tẩy bỏ các vết dầu mỡ, vết dơ trên quần áo khó khăn hơn với PERC;
-Ngoài ra giặt nước cũng mất nhiều thời gian hơn để công nhân là ủi và phơi khô.
Kỹ nghệ giặt-ướt đang hợp tác với các nhà sản xuất để thay đổi vật liệu giặt quần áo để ít bị ảnh hưởng khi giặt-ướt.
Giặt Với Hóa Chất Từ Dầu Mỏ (Petroleum-Based Drycleaning)
Theo nhiều chuyên gia, dùng hóa chất chế biến từ dầu mỏ để giặt quần áo ít độc hại hơn PERC và ít tốn kém hơn nhưng công hiệu tương đương với PERC. Có điều là dầu mỏ dễ gây hỏa hoạn và việc tẩy vết dầu mỡ khó hơn là PERC.
Dung dịch carbon dioxide đang được nghiên cứu để giặt ướt vì chất này bay đi, không dính vào quần áo. Máy giặt sử dụng CO2 có thể đắt hơn máy dùng PERC một chút.
Kết luận
Ngày xửa ngày xưa, tiền nhân giặt quần áo bằng cách đâp trên những hòn đá bên bờ sông, bờ suối rối phơi nắng cho khô. Quần áo trắng bong với mùi thơm của nắng vàng đồng nội. Chẳng cần máy móc phức tạp, hóa chất có hại. Đời sống thật thoải mái, dễ chịu.
Chả bù với ngày nay, hết máy móc này tới hóa chất kia, vừa tốn tiền mà lại cũng có rủi ro cho sức khỏe.
Nhưng cũng phải thừa nhận là quần áo ngày nay dễ dàng vương mang nhiều ô nhiễm của môi trường, cần tầy bó với xà bông, nước sạch.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ

>> Xem Tiếp!

10 mê cung rắc rối nhất thế giới

dts Post(14/8/09: Chỉ cần nghe đến từ “mê cung” là nhiều người đã cảm thấy bị lạc lối. Dưới đây là 10 mê cung rắc rối nhưng đẹp nhất thế giới!
1. Longleat Hedge (Anh)
Được tạo nên từ hơn 16.000 cây thông đò, mê cung Longleat Hedge là mê cung dài nhất thế giới. Lần đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 1975 và do nhà thiết kế Greg Bright thực hiện, mê cung này có diện tích lên tới 0,6 hecta với chiều dài mê lộ là 2,72 km. Không giống như các mê cung thông thường khác, Longleat Hedge có không gian 3 chiều, được trang điểm bằng những chiếc cầu gỗ mà đứng từ đó có thể nhìn thấy trung tâm mê cung, nơi đặt một trạm quan sát dành cho những du khách chinh phục thành công mê cung này.
2. Reignac-sur- Indre (Pháp)

Năm 1996, Reignac-sur- Indre, mê cung thực vật lớn nhất thế giới được xây dựng ở Reignac-sur- Indre, thành phố Tourain nước Pháp. Đã có hơn 85.000 du khách tới đây tham quan, và lạc lối trong mê cung rộng 4 hecta này.
3. York (Anh)

Bao gồm 1,5 triệu cây, mê cung này bao phủ một diện tích khoảng 12,8 hecta, tương đương với diện tích của 15 sân bóng đá. Mê cung York được trang bị công nghệ vệ tinh để cắt tỉa với độ chính xác bề rộng lên đến 1/2 m. Mê cung này nằm ở ngoại ô hạt York thuộc miền đông bắc nước Anh, do nghệ nhân Tom Pearcy thực hiện nhân dịp kỷ niệm 40 năm ra mắt bộ phim khoa học viễn tưởng Star Trek.
4. Ashcombe (Úc)

Ashcombe, mê cung có tuổi đời lâu nhất, sở hữu những hàng giậu truyền thống nổi tiếng nhất của Úc. mê cung này tọa lạc tại Shoreham phía đông Mornington Peninsula, bang Victoria. Những hàng giậu ở đây có chiều cao 3 m và rộng 2 m. Đây còn là mê cung hoa hồng lâu đời nhất thế giới với 217 các loại hoa hồng khác nhau.
5. Pineapple Garden (Hawaii)

Theo sách kỉ lục Guinness năm 2001, Pineapple Garden là mê cung lớn nhất thế giới với chiều dài của mê lộ lên tới hơn 4,5 km. Thay vì sử dụng các hàng giậu truyền thống, mê cung này được trồng với hơn 14.000 các loại cây đa dạng về màu sắc của vùng đất Hawaii như cây dâm bụt, cây bã đậu, dứa… Chính vì thế mà nó có hình thù rất kì dị nếu nhìn từ trên không.
6. Mê cung Rắn (Anh)

Nghệ nhân Micheal Blee, 62 tuổi đã mất nhiều tháng để tạo dựng mê cung rộng 2,4 hecta này tại trang trại Gore thuộc Upchurch gần Rochester, Kent. Bờ giậu của mê cung cao hơn 2,7 m. Đây là mê cung thứ 10 và cũng là mê cung phức tạp nhất mà ông Blee xây dựng với hy vọng rằng trò chơi khổng lồ này của ông sẽ được ghi vào sách kỉ lục Guinness.
7. Il Labirinto (Italia)

Được xây dựng từ đầu thế kỷ 18, Il Labirinto được coi là một trong những mê cung phức tạp nhất trên thế giới. Tuyệt phẩm này tọa lạc tại thị trấn Stra gần Venice. Có giai thoại kể rằng vào năm 1807 hoàng đế nước Pháp Napoleon đã bị lạc tại chính mê cung này.
8. Mê cung Hòa bình (Ireland)

Được mở cửa vào năm 2001, mê cung Hòa bình có bờ giậu rộng nhất thế giới bao phủ diện tích 11.000 m2, mê lộ ở đây có chiều dài lên tới 3147 m. Bờ giậu được tạo nên bởi 6.000 cây thông đò được chăm sóc hết sức chu đáo.
9. Hampton Court (Anh)|

Mê cung ở Hampton Court được coi là một trong những mê cung nổi tiếng của Anh nằm trong khu vực Hoàng gia thuộc phía Tây London. Đây còn là một phần của khu vườn dành cho Hoàng tử William xứ Orange vào giữa những năm 1689 và 1695. Với diện tích vào khoảng 1.350 m2 và chiều dài mê lộ là 0,8 km, Hampton Court từng được miêu tả cực kì hài hước trong cuốn tiểu thuyết “Ba người đàn ông trên một chiếc thuyền” của Jerome K. Jerome. Hàng năm, Hampton Court vẫn thu hút hàng trăm ngàn lượt du khách đến thăm quan.
10. Davis’ Mega (Mỹ)

Mê cung Davis’ Mega tọa lạc tại thị trấn Sterling, bang Massachusetts, Mỹ. Từ năm 1998, nơi đây đã trở thành một địa điểm hấp dẫn khách du lịch. Mê cung này thuộc quyền sở hữu của trang trại Davis - một trang trại đã được duy trì qua 7 thế hệ.

>> Xem Tiếp!

Wednesday, August 12, 2009

Xe hiệu Chevrolet Volt chạy 230 miles một gallon

Trần Vũ theo AP, Aug 12, 2009, VIDEO CUỐI TRANG
Cuộc chạy đua tiết kiệm năng lượng bắt đầu diễn ra mạnh mẽ.Photo courtesy: AFP

- Thứ ba 11 tháng 8 công ty GM loan báo mẫu xe điện Chevrolet Volt của họ có thể chạy tới 230 dặm trong thành phố chỉ tốn 1 gallon xăng, tức gấp 4 lần mức tiêu thụ hiện nay của xe Toyota Prius.

Động cơ xe là một máy điện và dàn pin có khả năng hoạt động trong vòng 40 dặm. Sau đó một động cơ xăng nhỏ sẽ hoạt động kích thích sản xuất ra điện cho đoạn đường 300 miles.

Dàn pin có thể được “sạc” (charge) lại từ một nguồn điện đơn giản trong nhà garage. GM cho hay cho hay mẫu xe Volt chạy 230 dặm cho mỗi gallon xăng là theo tiêu chuẩn của cơ quan EPA.EPA cho là kiểu xe điện như xe Volt sẽ tiết kiệm nhiên liệu thật nhiều khi chạy trong thành phố, hơn là trên xa lộ. Theo lý thuyết khi bạn lái chiếc Volt mà chạy dưới 40 dặm rồi ngừng, thì xem như không bao giờ đụng tới giọt xăng nào.

Hiện nay chưa rõ số dặm đường cho mỗi gallon xăng trên xa lộ của chiếc Volt nhưng chủ tịch F. Henderson của GM hy vọng nó sẽ là 3 con số.

Nếu đúng như những gì loan báo thì chiếc Volt sẽ là cuộc cách mạng tiết kiệm nhiên liệu vì nó là chiếc xe sản xuất hàng loạt đầu tiên có thể chạy hàng trăm miles cho mỗi gallon xăng.

Tuy nhiên EPA cũng cho biết cơ quan này chưa thử xe Volt nên chưa rõ tính năng tiết kiệm xăng nhớt của nó ra sao.

EPA vẫn hoan nghênh công ty GM đã cho ra đời một sản phẩm kỹ thuật của tương lai, một xe hơi “Made in USA” có thể tiết kiệm tiền bạc cho các gia đình và giúp Mỹ không còn lệ thuộc nhiều vào dầu nhập cảng.

XEM VIDEO CHEVROLET VOLT

( Trần Vũ theo AP)

>> Xem Tiếp!

Sunday, August 9, 2009

Đi restroom nên coi chừng nhện độc

Có 3 phụ nữ ở miền bắc tiểu bang Florida được đưa đến bệnh viện cấp cứu trong 5 ngày; cả 3 phụ nữ có cùng 1 chứng bệnh giống nhau: Mới đầu lên cơn sốt nóng lạnh, ói mửa, cơ thể bại hoai đến tê liệt, và cuối cùng đều chết, mà bên ngòai thân thể của họ không để lại một thương tích gì.
Kết qủa giảo nghiệm 3 tử thi, đã tìm thấy trong máu của họ đều có chất độc như nhau. Sau khi diều tra lý lịch của họ, mới biết họ không hề quen biết nhau, nhưng cả 3 đều đến ăn ở nhà hàng OLIVER GARDEN trong thời gian rất gần trước khi họ chết được tin này, cơ quan An-Sinh thành phố cho chuyên viên đến đóng cửa nhà hàng Oliver Garden để điều tra, kiểm sóat thực phẫm, nước, dụng cụ nhà bếp, hệ thống máy điều hòa không khí… nhưng không tìm được cái gì khả nghi….
Đang lúc tóan thanh tra này ‘bí-lù’, thì may quá, người ta lai thấy có 1 thiếu nữ, là nhân viên của nhà hàng Oliver-Garden này được chở vào bệnh viện, và cô ta cũng có cùng chứng bệnh của 3 người mới chết. Cô ta nói với bác sĩ là cô đang nghỉ vacation, mấy bữa trước cô ta chỉ ghé nhà hàng để lãnh lương; cô ta không ăn uống gì, chỉ dùng nhà vệ sinh rồi về nhà… Nghe được tin này, một nhân viên chuyên nghiên cưu về chất độc lái xe đến nhà hàng Oliver-Garden, ông ta đi thẳng vào nhà vệ sinh, lật bàn cầu lên, thấy có con nhện, mắt thường cũng nhìn thấy nó; ong ta bắt con nhện này đem về phòng thí nghiệm nghiên cứu, thì mới biết đây la lọai nhện TWO STRIPED TELAMONIA, lọai nhện này có 2 vạch đỏ trên lưng-bụng, và nó có nọc độc cực kỳ nguy hiểm; sau khi nó cắn và phun nọc đọc vào người ta, 2-3 ngày sau mới phát bệnh, và chỉ 1 tuần sau là…AMEN…chết koo có thuốc chữa……
Loai nhện này thíc sinh sống ở nhưng nơi lạnh lạnh, ẩm ướt, và tối; vì vậy ở dưới bàn cầu, hay vành bồn cầu là nơi chúng ẩn núp để cắn vào mông đít người ta.
Sau 4 phụ nữ chết vì nhện cắn, lại đến lượt 1 ông luật sư cũng được đưa vào bênh viện cấp cứu, trước khi chết, ông ta nói với bác sĩ là ông ta hay đi công tác xa nhà bằng máy bay; ông đáp chuyến bay cuối cùng trong đời, cất cánh từ Indonesia, sau khi ghé Singapore trước khi bay về USA; Ông luật sư này không hề đến nhà hàng Oliver-Garden, nhưng lại có cùng một triệu chứng và chết giống 4 phụ nữ trước đây. lúc khám nghiệm tử thi của ông, người ta chỉ tìm thấy 1 dấu chấm đỏ như đầu cây kim do vến nhện cắn trên mông đít bên phải; sau khi điều tra, người ta biết được chuyên bay ong luật sư này đi xuất phát từ Ấn-Độ…Nhân viên an phi của hãng máy bay này khám xét cả 4 chiếc máy bay xuất phát từ Ấn Độ, người ta tìm thấy 2 tổ nhện độc này trong phòng vệ sinh.
Bây giờ chúng ta đã biết lọai nhện độc này vô cùng độc hại, giết người, chúng nó có thể ở bất cứ nơi nào; vì thế, trước khi sử dưng cầu tiêu công cộng, bạn hãy lật bàn cầu lên khám xét thật kỹ, nhấn nước 1 vài lần cho chắc ăn các bạn nhé.
Chúc các bạn luôn luôn được an toàn trong cuộc sống vui tươi và hạnh phúc….
Xin phổ biến đến như~ng người thân quen….

frankcungnguyen phỏng dịch

>> Xem Tiếp!