Thursday, July 8, 2010

THƯ MỜI: Tham dự tiệc gây quỹ tranh cử cho UCV Minh Dương

THƯ MỜI

Tham dự tiệc gây quỹ tranh cử cho UCV Minh Dương


Trân trọng kính mời:

Quý Vị Lãnh Đạo Tinh Thần,

Quý Vị Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà,

Quý Vị Thân Hào Nhân Sĩ,

Quý Vị Đại Diện các Hội Đoàn Quốc Gia Chống Cộng

Quý Vị Đại Diện các cơ quan Truyền Thanh, Truyền Hình và Báo Chí,

Quý Vị Đồng Hương Tỵ Nạn Cộng Sản miền Bắc California

Vui lòng dành chút thì giờ quí báu đến tham dự Tiệc Gây Quỹ Tranh Cử, được tổ chức:

Thời gian: 11 giờ sáng Chủ Nhật ngày 25 tháng 7 năm 2010

Địa điểm: Grand Fortune Seafood Restaurant

4100 Monterey Road, Suite 108, San Jose, CA 95111

(408) 226-8888

Chương trình văn nghệ, ngoài một số ca sĩ còn có sự đóng góp của Nữ Ca Sĩ Mỹ Lan và Em Bé Trần Thiện Anh Trí

Kính mong Quý Vị và Gia Đình tham dự đông đảo để thực hiện tinh thần ngày đoàn kết 25 tháng 6 năm 2010 tại Flourishing Garden Restaurant và để chứng tỏ sức mạnh của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản quyết tâm lật đổ Bà Nghi Viên đương nhiệm bất xứng Khu Vực 7.

Trân trọng,

San Jose, ngày 4 tháng 7 năm 2010

Ban Vận Động Tranh Cử cho UCV Minh Dương

Giá vé yểm trợ 35 Mỹ kim

Liên lạc: (408) 509-0803

(408) 509-2326



>> Xem Tiếp!

Wednesday, June 16, 2010

NGÀY VINH DANH CHA

Các con dấu yêu của mẹ !
Thời gian lướt qua nhanh quá ! Bao nhiêu vật đổi, sao dời ! Bao nhiêu biến chuyển sập đến.Có thứ hiện hữu rồi thoáng qua. Có thứ còn tồn tại như thách thức nhân tâm, long kiên trì dũng cảm và trí thông minh sáng tạo của con người : Khủng bố, thiên tai, dầu loang, gây hấn v.v…
Riêng ở San José, hiện tượng bè phái, phản dân chủ hay nói đúng hơn là cách cư xử không công bằng và lịch duyệt giữa con người với con người vẫn còn tồn tại nếu không muốn nói là càng ngày càng tồi tệ hơn.

Các con ạ !
Hơn hai năm qua, đồng hương tị nạn cộng sản nơi phần đất gọi là thung lũng tình thương, đã càng ngày càng ngán ngẩm về ước vọng một mong muốn thành hiện thực vĩnh viễn với danh xưng bé nhỏ “Little Saigon” hầu như rất mong manh. Lực cản ước vọng đó không ai phủ nhận được là từ người nghị viên đương nhiệm của Khu vực 7 và đa số trong tập đoàn lãnh đạo thành phố San José, chỉ vì danh xưng “Little Sàigòn” đã được bà Nghị viên đó xác nhận như có hàm ý chống Cộng. Đồng lõa với lực cản đó, là những người đại diện cho Cộng đồng để đề xuất xin danh xưng Little Sàigòn cho Khu phố Thương Mãi Việt Nam trên một đoạn của đường Story, theo ấn tượng, hầu như đã đánh trống bỏ dùi ( Nghĩa là không còn màng tới việc xin duy trì vĩnh viễn sau thời hạn ba năm).
Vì quan tâm đến “Little Sàigòn” nơi Thủ phủ của người tị nạn tại miền Bắc California này, nên đồng hương tị nạn cộng sản của Khu vực 7 nói riêng, và Thành phố San José, nói chung, đã quyết tâm làm vô hiệu hóa lực cản nói trên bằng cách thực hiện ý nguyện dân chủ theo luật pháp là xin truất nhiệm người nghị viên đã khinh miệt và coi thường nguyện vọng chính đáng của cộng đồng cùng màu da huyết thống với mình. Vì cường quyền và nhiều thế lực đứng sau, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã không đạt thành mục đích trong kỳ bầu cử đặc biệt (Special Election) ngày 3/3/2009.
“Bại không nản” là câu châm ngôn đã hun đúc chí tranh đấu kiên cường của người dân tị nạn. Trong kỳ bầu cử sơ khởi vừa qua, 8 tháng 6 năm 2010, dù không có sự tương nhượng giữa các ứng cử viên Mỹ gốc Việt (đối đầu với nghị viên đương nhiệm tái tranh cử), nhưng qua số phiếu mà cử tri bỏ cho họ đã chứng tỏ đại đa số người Mỹ gốc Việt tại Khu vực 7 không còn tin vào bà nghị viên đương nhiệm nữa. Do đó, số phiếu trên 7 ngàn mà bà ta trông đợi từ cử tri bầu “No Recall” hôm 3/3/2009, trong đợt bầu cử vừa mới đây đã chỉ còn trên bốn ngàn. Để rồi bà phải nhận chịu đi vào “run off” với ứng cử viên Minh Dương,có số phiếu cao thứ nhì (sau bà) vào kỳ bầu cử chung cuộc, 2 tháng 11 tới đây.
Các con biết không, nếu các ứng cử viên gốc Việt khác biết nhìn rõ vào mục đích chung, thì kỳ bầu cử sơ khởi 8 tháng 6 đã có một nghị viên mới với đức độ và tài năng hơn hẳn bà nghị viên đương nhiệm, Madison Nguyễn, trong cương vị đại diện dân ở Khu vực 7, mà không cần phải chờ bầu lại vào kỳ chung kết. Đây cũng là bài học nói lên rằng nếu nhiều chiếc đũa gom thành một bó thì sẽ tạo nên một lực vô địch hơn hẳn từng chiếc đơn lẻ, sẽ bị bẻ gãy một cách dễ dàng. Dầu sao, hồn thiêng sông núi, và vong hồn của các đấng tiền nhân, của các anh hùng tử sĩ, của những người dân Việt hiền lành chân chất cũng đã phù trợ cộng đồng người Việt tị nạn chân chính, giúp cho có được một ứng cử viên sáng giá có nhiều cơ hội trở thành một nghị viên mới của Khu vực 7.
Các con còn nhớ khi mẹ hàn huyên cùng ba và các con trong những buổi tối gia đình đoàn tụ đông đủ không ? Mẹ và ba đã bàn đến những nỗ lực mà Ủy Ban Bãi Nhiệm (trong đó ba, mẹ là những thành viên) sẽ đạt đến khi phục hoạt trong thời gian bầu cử của nhiệm kỳ 2010-2014 là: cương quyết giúp một ứng cử viên gốc Việt sáng giá nhất để có thể thay thế bà nghị viên đương nhiệm không còn xứng đáng nữa. Cho nên, ba và mẹ đã cùng với các, ông, bà, cô chú, bác trong Ủy Ban Bãi Nhiệm lại tiếp tục trách nhiệm mà cộng đồng tị nạn chân chính tin tưởng ủy thác. Dù có nhiều dèm pha, bóng gió từ mọi phía nhưng những thành viên trong UBBN vẫn kiên trì chịu cực, chịu khổ những khi trời hanh nắng như đốt cháy da người, băng mình trên từng, khu phố, ngõ cụt, trong những khu chung cư, mobile home để gõ cửa mời gọi cử tri bầu cho ứng cử viên đầy tâm huyết, có năng lực, phúc hậu và nhất là có lòng đam mê sinh hoạt dòng chính và tinh thần phục vụ người dân. Sự nhịn nhục và lòng vị tha đã giúp các thành viên trong UBBN vượt qua được những bực dọc không cần thiết để hướng đến nhiệm vụ cao cả mà mình đang dấn thân.
Đến nay, Ứng cử viên Rudy Rodriguez đã giữ lời cam kết của mình trong buổi tranh biện tại thư viện nhánh Evergreen trên đường Aborn là sẽ hỗ trợ Ứng cử viên Minh Dương nếu Ông ta không được vào vòng chung kết. Còn các ứng cử viên khác, hy vọng họ sẽ tỏ thái độ lịch lãm của người dân Hoa kỳ, hay nói đúng hơn nếu họ có cùng chí hướng chung là mong có một khuôn mặt nghị viên mới. thay thế người nghị viên đương nhiệm không còn được lòng tin của đa số cử tri Khu vực 7 nữa.
Dầu sao chăng nữa, lòng dân mới là yếu tố quyết định một vấn đề. Cho nên vì sự nghiệp chung, mẹ và ba hy vọng ở sự sáng suốt của cử tri Khu vực 7 sẽ dồn phiếu cho ứng cử viên Minh Dương vào ngày bầu cử 2 tháng 11 năm 2010.
Nhân ngày Father’s Day năm nay, mẹ mong các con hãy cùng ý hướng chung của mọi người con, với tấm lòng thành và hiếu thảo, luôn nhớ câu “Công cha như núi Thái Sơn” của tiền nhân và câu “Tình cha tha thiết như vầng Thái Dương…” trong bài hát của Ca,Nhạc sĩ Ngọc Sơn, nên tổ chức ngày VINH DANH CHA năm nay đầy ý nghĩ nhất.
Mẹ sẽ hỗ trợ các con tận tình.
HAPPY FATHER’S DAY ! HAPPY FATHER’S DAY.
Bạch Tường Quân.

>> Xem Tiếp!

Nhận định về kết quả bầu cử tại Bắc Cali

I. Tại Sao Bầu Cho Thomas Nguyễn và Lê Hữu Phú?

Trong thời gian qua, vấn nạn lớn tại Bắc Cali là sự chia rẽ và đối đầu giữa Ban Đại Diện Cộng Đồng và Liên Đoàn Cử Tri, nhất là trong vấn đề Bầu Cử chức Thị Trưởng San Jose và chức Nghị Viên Khu Vực 7. Là người độc lập không thuộc “phe” nào, không thiên vị ai, lại chủ trương vận động sự đoàn kết của mọi Tổ Chức, Đoàn Thể chống Cộng tại Bắc Cali trong mục tiêu Giải Thể Chế Độ CSVN, tôi đã đề nghị Đồng Bào tại địa phương, đặc biệt nhân sự thuộc 2 phe tham chiến: Cộng Đồng (CĐ) và Liên Đoàn Cử Tri (LĐCT) ngưng các cuộc bút chiến đấu đá, hạ nhục lẫn nhau, cùng tập trung bầu “Block Vote” cho Thomas Nguyễn chống Chuck Reed và Lê Hữu Phú chống Madison Nguyễn vì LĐCT có 2 Ứng Cử Viên (UCV) đại diện tranh cử chức Thị Trưởng và Nghị Viên trong lúc CĐ chỉ có 1 UCV đại diện tranh cử chức Nghị Viên. Nếu Lê Hữu Phú ứng cử chức Thị Trưởng cùng Thomas Nguyễn, tôi đã đề nghị bầu cho Lê Hữu Phú chống Chuck Reed và bầu Minh Dương chống Madison Nguyễn. Nếu chỉ có 2 người, một đại diện CĐ và một đại diện LĐCT tranh chức Nghị viên Khu Vực 7, không tranh chức Thị Trưởng, tôi sẽ đề nghị bầu cho ai có nhiều khả năng đánh bại Madison Nguyễn mà không quan tâm người này là “gà” của CĐ hay “gà” của LĐCT.

Biện pháp này dù nếu không loại bỏ được Chuck Reed và Madison Nguyễn trong kỳ bầu cử này ít nhất cũng có các lợi điểm sau:
  1. Gửi một tín hiệu về sức mạnh chính trị của Cử Tri người Việt ;
  2. Khởi sự hóa giải sự chia rẽ trong Cộng Đồng người Việt chống Cộng tại Bắc Cali để tái xây dựng một hậu phương vững mạnh yểm trợ Quốc Nội;
  3. Ngăn chận Chuck Reed và Madison Nguyễn cũng như VC trở thành “ngư ông đắc lợi” và ảnh hưởng thất lợi đến nỗ lực đấu tranh Giải Thể Chế Độ CSVN.

II. Kết Quả Bầu Cử:
  • MADISON NGUYEN --- 41.54% 4,486
  • MINH DUONG --- 24.03% 2,595
  • PATRICK PHU LE --- 16.99% 1,835
  • RUDY J. RODRIGUEZ --- 14.28% 1,542
  • VIETNAM NGUYEN --- 3.17% 342

  • CHUCK REED --- 77.02% 101,469
  • THOMAS NGUYEN --- 9.87% 13,009
  • SUSAN BARRAGAN --- 7.86% 10,355
  • BILL CHEW --- 5.25% 6,912

III. Nhận Định:

1. Ứng Cử Viên Thomas Nguyễn:

Thomas Nguyễn đạt số phiếu trên sức tưởng tượng và dự đoán ngoài việc được xếp hạng hai trên cả Susan Barragan và Bill Chew: 13,009 phiếu. Dù chưa có kết quả chi tiết sắc dân nào, lứa tuổi nào bầu… bao nhiêu, chúng ta cũng có thể tin chắc đa số phiếu là do Cử Tri Việt bầu cho Thomas Nguyễn. Số lượng nầy lớn hơn số phiếu các Chủ Tịch Cộng Đồng Bắc Cali nhận được trong các nhiệm kỳ qua, kể cả Chủ Tịch đương nhiệm, gấp gần 4 lần số 3344 phiếu trong cuộc Bầu Cử Cộng Đồng ngày 19/6/2009 và lớn hơn số người tập họp trong cuộc Biểu Dương khí thế trước tiền đình HĐTP ngày Chủ Nhật 2/3/2008 đã một thời làm chấn động San Jose! Tín hiệu này Đồng Bào không chỉ gửi đến Chuck Reed và các quan chức tương lai của San Jose, mà còn nhằm nhắn nhủ những cá nhân, tổ chức đang lầm lẫn chọn hướng đi ngược lại nguyện vọng của đại đa số quần chúng. Tín hiệu này cũng là chỉ dấu cho thấy đại đa số Cử Tri đi bầu đã vượt qua được sự phân hóa nội bộ, “block vote” để phô trương sức mạnh chính trị của Tập Thể người Việt tị nạn chống Cộng tại Bắc Cali.

2. Ứng Cử Viên Madison Nguyễn:

Madison Nguyễn dẫn đầu với số phiếu 4.486, nhưng hãy thử so sánh số phiếu Phù & Chống Madison Nguyễn giữa Bầu Cử 7/6/2010 và Recall và kết quả tái đắc cử của các quan chức đương nhiệm:

KẾT QUẢ RECALL/ KẾT QUẢ BẦU CỬ / SAI BIỆT
RECALL 5.897 / NO MADISON 6.314 / +417
NO RECALL 7.270 / YES MADISON 4.486 / -2.784

KẾT QUẢ TÁI ĐẮC CỬ CỦA CÁC QUAN CHỨC ĐƯƠNG NHIỆM

1. SAM T. LICCARDO 80.22%
2. CHUCK REED 77.02%
3. PETE CONSTANT 66.38%
4. MADISON NGUYỄN 41.54%

Căn cứ trên số sai biệt giữa Recall và Bầu Cử, có thể kết luận số “Chống” Madison Nguyễn tăng 417 người trong khi số “Phù” Madison Nguyễn đã giảm 2.784 người! Trong số 4 quan chức đương nhiệm tái đắc cử, Sam T. Liccardo đạt tỉ lệ cao nhất: 80.22%, Chuck Reed cao thứ nhì: 77.02%, Pete Constant thứ ba: 66.38% và cả 3 đếu thắng cử ngay vòng sơ bộ. Madison Nguyễn không những thấp nhất: 41.54% mà còn phải tranh chung kết với Minh Dương!!! Kết quả trên là chỉ dấu về những thắng lợi đã đạt được qua các cuộc vận động hạ bệ Madison Nguyễn.

3. Ứng Cử Viên Minh Dương:

Với số 2.595 phiếu, chiếm 24.03%, Minh Dương thua Madison Nguyễn 1.891 phiếu (4.486-2.595). Nhưng trong kỳ Bầu Cử này, tổng số phiếu chống Madison Nguyễn là 6.314, chia cho 4 người, ngoài Minh Dương gồm Lê Hữu Phú: 1.835, Rudy J. Rodriguez: 1.542 và Nguyễn Việt Nam: 342. Như vậy Madison Nguyễn đã bị đánh bại trên danh nghĩa bởi quyết tâm chống đối của Cử Tri với 1.828 phiếu. Nếu chỉ một UCV duy nhất tranh cử với Madison Nguyễn và nhận đủ số phiếu chống này, Madison Nguyễn đã bị loại bỏ ngay tại vòng sơ kết. Như vậy chúng ta cần đoàn kết và thống nhất ý chí, dùng cột mốc tháng 11/2010 bầu chung kết để chôn vùi sự nghiệp của kẻ phản bội!

4. Lập Luận Phe Chống Minh Dương:

Một thiểu số chống Minh Dương dựa trên 2 lập luận sau để không bầu cho Minh Dương:

a. Minh Dương “cá mè một lứa” hoặc có thể “tệ” hơn Madison Nguyễn: Kiểu lập luận này không khác luận điệu của những thành phần chống Cộng nhưng thiếu lập trường vững chắc: “Nếu lật đổ CS mà Chế độ thay thế không chắc tốt hơn CS thì thà để Đảng CSVN tiếp tục cầm quyền!” Đây là tư tưởng chủ bại của kẻ chủ trương“Thà nô lệ hơn chết!” Nhân loại sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có chế độ nào tàn tệ hơn Chế độ CS. Minh Dương hay bất cứ Nghị Viên tương lai nào của Khu Vực 7 chẳng ai điên dại đến nỗi đi theo con đường trở cờ của Madison Nguyễn sau bài học Madison Nguyễn! Chỉ trừ một ngoại lệ: Nếu chúng ta tiếp tục chống nhau thay vì chống Cộng và chống những kẻ phản bội, “Thủ Phủ Chống Cộng” San Jose tương lai sẽ trở thành “Đại bản doanh” của CSVN tại Hải Ngoại, những Ứng Cử Viên do VC chỉ định sẽ công khai in hình cờ máu trên fliers của họ thay vì bị địch thủ chơi xỏ “chụp mũ” như vụ UCV Magdalena Carrasco tại Khu Vực 5 vừa qua.

b. Minh Dương có thể bị Recall vì vi phạm Điều Lệ Bầu Cử:
  1. Trong các luật lệ liên quan đến Bầu Cử, không văn kiện hoặc đơn xin ứng cử nào đề cập đến việc người mắc nợ không có quyền ứng cử như một số tin đồn. Tại Hoa Kỳ, không ai không là “con nợ” của nhà băng dù thuộc thành phần triệu phú. Người giàu nợ lớn, người nghèo nợ nhỏ. Vay nợ, mắc nợ là một hình thái vận hành của Chủ Nghĩa Tư Bản.
  2. Phòng Thương Mại trước khi “endorse” Minh Dương và bỏ rơi Madison Nguyễn chắc chắn phải nghiên cứu kỹ mọi tình huống. Một Tổ Chức đầy uy tín không thể chọn bừa UCV có những “vi phạm” trầm trọng có đủ căn cứ pháp lý để bị Recall.
  3. Recall là một thủ tục nhiêu khê có tỉ lệ thành công rất thấp. Trong 6 cuộc Bầu Bãi Nhiệm tại Khu Vực 7, chỉ 1 Nghị Viên bị bãi nhiệm: Kathy Cole vì tội “vô cảm trước vấn đề chủng tộc,” 5 Nghị Viên còn lại đều “bình an vô sự.”
  4. Thử đặt giả thuyết Minh Dương, sau khi thắng cử, bị khám phá vi phạm một điều luật nào đó có khả năng bị Recall, thì việc Madison Nguyễn bị “đánh bại trước rồi được phục hồi sau” cũng là một đòn trừng trị dằn mặt đáng làm, còn hơn phải ôm mối nhục “bận lo chống phe ta Minh Dương” để phe địch Madison Nguyễn “đắc lợi” thắng cử dễ dàng!

IV. Đề Nghị:

  1. Các cây bút chủ lực của hai phe tham chiến hoàn toàn ngưng hẳn các cuộc bút chiến có tính mạ lỵ và lăng nhục lẫn nhau.
  2. Cần delete, không chuyển, không góp ý đối với những bài viết của những cá nhân “dây máu ăn phần” vì tư lợi và động cơ thiếu lương thiện.
  3. Đáng lẽ theo gương Rudy J. Rodriguez “endorse” Minh Dương, UCV Lê Hữu Phú lại hấp tấp tuyên bố: “I won't personally support either Nguyen or Duong in November. Duong has demonstrated poor judgment in a host of matters, including legal disputes with a former campaign consultant and a landlord." Không chỉ không endorse, LHP còn nhân tiện “đâm vớt” UCV cùng chống Madison Nguyễn thêm một dao sau khi bị loại khỏi cuộc chơi! Rõ ràng LHP đã “nhẹ tay” với kẻ phản bội đã lăng nhục mình và mọi người bằng những từ ngữ: “Bọn vô công rỗi nghề!” “Lũ hát xiệc!” và “nặng tay” với người cùng chiến tuyến chống kẻ chống Little Saigon vì tên này “hàm nghĩa chống Cộng.” Đây là một đòn,chiêu chuẩn bị cho tương lai tham chính hay “tự ám sát chính trị?” Thời gian sẽ trả lời. Nếu LHP không sửa sai “poor judgment” của mình và thay đổi quyết định này, tôi đề nghị những Cử Tri chống Madison Nguyễn bằng cách bầu cho LHP sẽ tiếp tục chống Madison Nguyễn bằng cách bầu cho Minh Dương để LHP nhận thức được rằng lá phiếu bầu cho LHP chỉ là lá phiếu chống Madison Nguyễn + hàn gắn rạn nứt Cộng Đồng chứ không phải vì “thành tích đấu tranh” hay “khả năng phán đoán và lãnh đạo” của LHP!
  4. Tổ chức buổi họp giữa Ban Đại Diện Cộng Đồng và Liên Đoàn Cử Tri để giải quyết các xung đột. Một số thành viên LĐCT có gợi ý nhờ tôi làm trung gian hòa giải. Nếu CĐ tin cẩn vào tính độc lập, không phe phái, không thiên vị của tôi, tôi sẽ tiếp xúc để tiến hành tổ chức cuộc họp. Điều cần nhấn mạnh: Chính Madison Nguyễn là kẻ chủ mưu “truy sát” Cộng Đồng qua các biện pháp hạn chế số người tụ tập 49 người, cấm nấu ăn, forclosure khu building này … để biến một Trụ sở Cộng Đồng hoành tráng, lẫm liệt thành nơi bán xì ke-ma túy hợp pháp với tên gọi: MEDILEAF cho những kẻ nghiện cần sa có giấy bác sĩ, và dồn kẻ bại trận vào đường cùng phải share Trụ sở Khu Hội để dung thân! Không hiểu Ban Đại Diện CĐ còn có lý do gì khác để không endorse Minh Dương chống Madison Nguyễn?!? Nếu Madison Nguyễn thắng lớn và thắng dễ dàng trong kỳ bầu chung kết, không chỉ DANH DỰ Ban Đại Diện CĐ mà DANH DỰ của Toàn Thể người Việt tị nạn chống Cộng Bắc Cali sẽ bị “vùi dập” và hủy hoại một cách nhục nhã!
  5. Mọi Tổ chức, thành phần chống Cộng và chống Madison Nguyễn cần đoàn kết, hợp tác, yểm trợ, cùng vạch những phương án, kế hoạch khả thi để vận động Cử Tri VN chống Madison Nguyễn đi bầu đông đảo và các Cộng Đồng bạn bỏ phiếu cho Minh Dương.
V. Kết Luận:

Từ một “Thủ Phủ Chống Cộng” San Jose biến thành “Thủ Phủ chống nhau” bắt nguồn từ những quyết định sai lầm trong quá khứ phát xuất từ một trong hai động cơ:
  1. “Thừa thắng xông lên:” Thừa thắng xông lên mà không tự lượng thực lực Ta-Địch và hiểu rõ nhân tố chính của sự thắng lợi trong vụ đấu tranh Little Saigon. Nếu biết ngừng lại sau khi Hội Đồng Thành Phố quyết định chấp thuận tên Little Saigon, chúng ta có thể đã vĩnh viễn hóa và đã xây xong cổng chào Little Saigon, không phải nếm mùi đại bại từ vụ Recall đến Brown Act. Và trong kỳ Bầu Cử sơ bộ vừa qua, chúng ta đã đủ khả năng đánh bại Madison Nguyễn sau hơn 2 năm chuẩn bị.
  2. “Thua me gở bài cào:” Thua me gở bài cào mà không nắm vững con bài tẩy. Do thua Recall, phe ta “chộp” ngay vụ Cảnh Sát đánh người có Video tang chứng để vận động kết hợp với các Cộng Đồng bạn “hỏi tội” Hội Đồng Thành Phố và lên án hành động kỳ thị chủng tộc, cách hành xử man rợ, khát máu của Cảnh Sát địa phương. “Họa vô đơn chí” vô tình vớ nhầm “quý tử Mafia đỏ,” vụ Hồ Phương trở thành tác nhân của phân hóa và nội chiến giữa các thành phần Cộng Đồng. Từ chống Cộng, chống liên minh Chuck Reed-Madison Nguyễn, San Jose dồn mọi nỗ lực chống nhau chỉ vì cái “Ta,” cái “tư lợi,” cái “phe phái” được đặt trên cái “Chúng Ta,” cái “công lợi,” cái “Đại Khối Dân Tộc,” tạo môi trường thuận lợi để địch thủ Chuck-Ma và kẻ thù CS trở thành “ngư ông đắc lợi!
Chúng ta vẫn còn cơ hội chót để hạ bệ Madison Nguyễn khi chỉ còn 2 đối thủ trong vòng chung kết: Minh Dương vs Madison Nguyễn. Chúng ta không còn lựa chọn nào khác như vòng sơ kết khi còn có 4 UCV. Hoặc Minh Dương hoặc Madison Nguyễn! Chỉ có vậy! Vì DANH DỰ Cộng Đồng, vì số phận biểu tượng Little Saigon, vì tư thế và tương lai chính trị của người Việt tị nạn, vì sự nghiệp Giải Thể Chế Độ CSVN, chúng ta cần phải vượt qua mọi trở ngại để bắt tay ĐOÀN KẾT, quyết tâm thực hiện các Đề Nghị trên với châm ngôn: “Muốn hạ bệ Madison Nguyễn hãy bầu cho Minh Dương.” “Không bầu cho Minh Dương là ‘vô tình hay cố ý’ bầu cho Madison Nguyễn, là phản bội Little Saigon, phản bội nguyện vọng của đại đa số Đồng Bào Việt tị nạn tại Bắc Cali.”

San Jose 17/6/2010
LÝ TỐNG

>> Xem Tiếp!

Sunday, June 6, 2010

KỶ NIỆM NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6

Hầu hết mỗi quốc gia trên thế giới đều có lực lượng quân sự để giữ gìn an ninh lãnh thổ của quốc gia mình. Do đó khi lực lượng quân sự được hình thành đều có một mốc thời gian để ghi nhớ.

Miền nam Việt nam trước đây cũng có ngày 19 tháng 6 là ngày ghi nhớ việc hình thành Quân lực Việt nam Cộng hòa.

Tiền thân của lực lượng quân sự Việt nam được khai sinh từ thời

Cựu hoàng Bảo Đại trị vì nước Việt nam, dưới ngôi vị Quốc trưởng.Thời đó, lực lương quân sự mang danh xưng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Sau này,danh xưng đó được chuyển đổi thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho phù hợp với vai trò và trách nhiệm của một lực lượng quân sự với tổ chức và trang bị hiện đại, tương xứng với một Quân Đội hùng mạnh vào hàng thứ ba trên thế giới.

Ngược giòng thời gian:

Kể từ sau ngày Hiệp định Genève được ký kết, 20 tháng 7 năm 1954( có ghi chú cho rằng ngày chính thức ký là 21 tháng 7 năm 1954), các lực lượng thuộc Quân Đôi Quốc Gia Việt Nam ở miền Bắc được di chuyển (song song với lực lượng Quân đội Liên hiệp Pháp) để vào kết hợp với các đơn vị Việt nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong Nam, tức là miền Nam Việt nam.

Sau khi Quân Đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Đông dương theo thỏa hiệp Genève, toàn bộ lực lượng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn đảm trách nhiệm vụ bảo vệ phần đất tự do của miền Nam Việt nam dưới quyền của vị Tổng tư lệnh tối cao là Tổng Thống Ngô Đình Diệm (được nhân dân miền nam bầu và được Quốc Hội xác nhận qua hiến pháp thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 tháng 10 năm 1956).

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, sau khi khước từ việc Hoa Kỳ muốn tăng cường lực lượng quân sự của họ vào miền Nam Việt nam (nghĩa là khước từ việc xen vào quyền dân tộc tự quyết của Việt nam), một cuộc đảo chánh xảy ra do nhóm tướng lãnh chủ xướng dưới sự chỉ đạo của đại diện chính phủ Hoa Kỳ để lật đổ nền đệ nhất Cộng hòa. Hôm sau, ngày 2 tháng 11, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào huynh là Ngô Đình Nhu đã bị tập đoàn Tướng lãnh phản phúc cho thuộc hạ thủ tiêu rồi phao tin là các vị này tự sát.

Kẻ từ sau ngày gọi là “Cách Mạng” 1 tháng 11 năm 1963, guồng máy chính quyền miền Nam Việt nam đã được điều hành từ tập đoàn Tướng lãnh này đến tập đoàn Tướng lãnh khác (có xen kẽ vào vào thời gian ngắn ngủi dưới triều Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu) qua các cuộc chỉnh lý, đảo chánh, lật đổ và sau cùng là bầu cử và thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa.Tổng Thống Trần Văn Hương và Tổng Thống Dương Văn Minh (gần 3 ngày) là những vị Tổng Tư Lệnh tối cao cuối cùng của QLVNCH .

Khi thực hiện cuộc đảo chánh 1/11/1963,Tướng Dương Văn Minh

được phe nhóm tôn vinh làm Chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Thời gian ngắn sau đó, bị Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý

và nắm chức Chủ tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng. Vì chủ trương ban hành hiến chương Vũng Tàu và bày ra ngôi vị Chủ tịch

Nước Việt Nam Cộng Hòa nên bị sinh viên phản đối và bị lật đổ.

Từ đó chính phủ dân sự đưọc hình thành : Cụ Phan khắc Sửu trong

Vai trò Quóc trưởng và Ông Phan Huy Quát nắm giữ chức Thủ Tướng.

Sau khi có sự bất đồng quan điểm giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát, một cuộc từ chức của các vị này đã xảy ra để rồi Quân Đội đã lại phải đứng ra lãnh trọng trách

điều hành guồng máy Quốc gia vào ngày 19 tháng 6 năm 1965.

Được sự tín nhiệm của Hội Đồng Tướng Lãnh và các Sĩ Quan cao cấp có uy tín,vào thời điểm đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã giữ vai trò là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (tương đương với chức Tổng Thống), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ trọng trách Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Uơng (tương đương chức Thủ Tướng).

Quốc Hội Lập Hiến được tái hình thành (dĩ nhiên phải qua sự đồng thuận của dân chúng bằng lá phiếu) để soạn thảo ra Hiến Pháp của nền Đệ nhị Cộng Hòa, lo việc quy định thể thức tổ chức bầu cử Tổng Thống và Phó tổng Thống. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử chức vị Tổng Thống và Thiếu Tướng Nguyễn Cao kỳ làm Phó tổng Thống (vì chung một liên danh). Chức vị Thủ Tướng, do sự lựa chọn của Tổng Thống, có nhiệm vụ thành lập nội các.

( Ông Vũ văn Mẫu là Thủ Tướng cuối cùng của VNCH trong giai đoạn 3 ngày của Tổng Thống Dương Văn Minh).

Cũng kể từ ngày 19 tháng 6 năm 1965, Quân Đội hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân để gìn giữ an ninh và bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của miền Nam Việt Nam.

Năm 1965 là thời gian chính phủ Hoa kỳ áp dụng chủ trương cho Quân đội của họ xâm nhập để tham chiến tại VN song song với sự tham gia của các lực lượng quân sự Đồng minh như : Đại hàn, Thái lan, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Gia Nã Đại, các đoàn Dân sự vụ Phi luật Tân, Các Cố vấn Chiến tranh Chính trị Đài Loan v.v…

Nơi đổ bộ đầu tiên của Quân đội Mỹ là vùng biển Đà nẵng (thường thì Hoa kỳ chuẩn bị cho những dự tính của mình có khi trước cả 10 năm).

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, QLVNCH đã bị Tổng Tư Lệnh tối cao là Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng và giã ngũ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo thực tế pháp lý, không còn nữa, nhưng trên tinh thần của lịch sử,tính thiêng liêng và mục đích mà mình theo đưổi , thì ngày Quân Lực 19 tháng 6 vẫn là ngày đáng ghi nhớ.

Sự khẳng định này, dựa trên cơ sở của một chính nghĩa Quốc Gia sáng ngời mà Quân Lực đó, tuy không còn các tổ chức, hay trang bị thích hợp, từ Thượng tầng xuống đến hạ tầng cơ sở, thuộc các Quân, Binh Chủng, nhưng vẫn còn các cựu Tướng lãnh, Sĩ-quan, Hạ sĩ quan,Binh sĩ các cấp hợp quần với nhau nơi Hải ngoại để cùng nhau góp sức đấu tranh vì công bằng ,dân chủ và nhân quyền cho Cộng Đồng tị nạn nơi quê hương thứ hai và cho đồng bào ruột thịt của Tổ quốc Việt nam thân yêu bên kia bờ Đại dương.

Kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 không phải là để tiếc nuối dĩ vãng như những luận điệu xuyên tạc và suy nghĩ không đứng đắn.

Tổ chức kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 là để khẳng định mục tiêu và lý tưởng của chiến sĩ Quốc Gia các cấp đã và đang theo đưổi : Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm. Kỷ niệm ngày Quân lực 19 tháng 6 cũng còn chứng tỏ cho nhân dân trên toàn thế giới biết rằng : Tập thể Quân lực Việt Nam Cộng Hòa không phải là đội quân đánh thuê cho bất cứ một thứ Đế quốc nào như luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của Cộng sản đã từng rêu rao trước đây.

Thực thế , khi di chuyển vào miền Nam Việt nam, từ vĩ tuyến 17, theo Hiệp địng Genève 1954, QLVNCH chỉ muốn bảo vệ phần đất tự do để cho nhân dân miền Nam được sống trong thanh bình, ấm no, hạnh phúc. Qua những tháng năm dưới sự lãnh đạo anh minh của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, toàn quân, toàn dân miền Nam Việt nam đã có cuộc sống an bình và no ấm hơn, so với cuộc sống kể từ nền Đệ nhị Cộng hòa ,hay nói rõ hơn kể từ sau cái ngày gọi là Cách mạng 1 tháng 11 năm 1963. Nếu đem so sánh cuộc sống của nhân dân miền Nam qua cả hai nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa thì cuộc sống của nhân dân miền Bắc Việt nam thua kém xa một trời một vực trên mọi phương diện.

Kể từ ngày Tổng thống Ngô Đình Diệm mất đi, một phần do thế lực bên ngoài, một phần do sự lãnh đạo kém cỏi của các tập đoàn lãnh đạo quốc gia,một phần nữa do tham vọng bành trướng điên cuồng của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản miền Bắc dưới sự chỉ đạo của Cộng sản Quốc tế, miền Nam Việt nam luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh; cuộc sống của nhân dân, ở mọi miền xa xôi thành thị, nhất là nơi các vùng xôi đậu, không bao giờ được yên ổn lâu dài.

Dù vậy, ở bất cứ tình huống nào,Quân lực Việt nam Cộng hòa vẫn chiến đấu kiên cường chống lại quân xâm lược Bắc việt.

Những chiến tích oai hùng của các đơn vị thuộc mọi Quân, Binh chủng, chủ lực, địa phương quân, nghĩa quân và đặc biệt của các lực lượng Tổng trừ bị ( Nhảy dù, Biệt kích dù, Biệt động quân,

Thủy quân lục chiến) vẫn còn ghi dấu sử sanh trên các trận địa :

Mậu thân,Tống Lê Chân, Cổ thành Quảng trị, Mùa hè đỏ lửa, Lam sơn 719, Kontum, Đức cơ, Bình long, An lộc, Đồng xoài, Bình giả, Khe sanh,v.v…và những trận chiến vào những ngày cuối cùng của tháng Tư đen trước khi Dương văn Minh ra lệnh buông súng.(Trận chiến dũng cảm của lực lượng Thiếu sinh quân Vũng tầu, của Trường Truyền tin cùng các đơn vị kết hợp trong vùng, của các chiến sĩ Thiết giáp và Liên đoàn 81 Biệt cách dù hạ những T54 của Cộng quân trước cổng Trại Phi Long , Tân Sơn Nhứt, và nhiều, nhiều nữa mà người viết không nhớ hết).

Sau Hiệp nghị hòa đàm Paris ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Quân Lực Việt nam Cộng hòa đã hoàn toàn tự đảm nhận trách nhiệm bảo vệ miền Nam Việt nam theo kế hoạch Việt nam hóa chiến tranh (được thỏa hiệp giữa hai chính phủ Việt nam và Hoa kỳ).Cũng từ đó các lực lượng quân sự Hoa kỳ và Đồng minh đã lần lượt rút ra khỏi miền nam Việt nam.

Nhưng, oái oăm thay, từ sự kiện thay đổi của thế chiến lược toàn cầu mà Hoa kỳ, Liên sô và Trung cộng là những thành phần mấu chốt, QLVNCH đã phải chiến đấu trong hoàn cảnh càng ngày càng trở nên khó khăn (hay nói rõ hơn, người bạn đồng minh khắng khít nhất là Hoa kỳ đã càng tỏ ra không còn tận tình) .Trong khi đó thì quân Bắc việt vẫn được sự trợ giúp tối đa của các nước trong khối Cộng sản.

Mặc dầu ở hoàn cảnh cay nghiệt, khi viện trợ chỉ còn thu lại ở mức 300 triệu Mỹ kim một năm và các trang thiết bị, đạn dược v.v…đã hầu như cạn kiệt, nhưng các chiến sĩ QLVNCH vẫn anh dũng chiến đấu cho đến khi không còn chiến đấu đưọc nữa.

Biến cố 30 tháng Tư năm 1975, là một bước ngoặt đau thương của dân tộc Việt nam, mà cũng là dấu mốc đáng ghi nhớ về những gương dũng liệt “VỊ QUỐC VONG THÂN” trong dòng lịch sử dựng nước và giữ nước của giòng giống Tiên Rồng. Những “Sinh vi Tướng, tử vi thần”như :Nguyễn Khoa Nam ,Lê văn Hưng, Lê nguyên Vĩ, Trần văn Hai, cùng biết bao Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ , các thành phần bán quân sự đã tự kết liễu đời mình để khỏi lọt vào tay địch trước và sau khi có lệnh đầu hàng là những gương dũng liệt trong sử sanh Việt.

Ôn cố tri tân, trong quá trình miền Nam Việt nam được QLVNCH lo toan việc giữ gìn an ninh và bảo vệ phần đất tiền đồn của thế giới tự do, dù có một thiểu số bất xứng trong hàng ngũ các cấp, nhưng so ra không bằng một góc của những thành phần tham ô nhũng lạm trong hàng ngũ quân đội nhân nhân Cộng sản Việt nam ngày nay.Khẩu hiệu “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh..” của Vệ quốc quân ngày xưa, và Quân đội nhân dân ngày nay có còn đúng với hiện thực không ? Hay chỉ còn là khẩu hiệu “Mọi người vì mình” khi các Đảng viên Cộng sản và Quân đội, Công an coi nhân dân như tôi tớ (thay vì họ là những đầy tớ của nhân dân).

Những phồn vinh giả tạo nơi chốn thị thành không thể khỏa lấp được những tệ nạn đều khắp trên cả nước.

Hơn 35 năm qua, sau khi nước nhà được thống nhất, đáng lẽ đại đa số nhân dân Việt nam phải có một cuộc sống khả dĩ tương đối văn minh và đầy đủ ngang bằng các nước đang phát triển trên thế giới. Bởi lẽ Việt nam là vựa lúa lớn nhất, nhì Đông nam Á, có rừng vàng, biển bạc, và nhiều tài nguyên thiên nhiên, được các nước tiên tiến viện trợ mọi măt, lại có đội ngũ chuyên viên đáng kể được tiếp thu kinh nghiệm khoa kỹ thuật qua các viện Đại học nổi tiếng trên thế giới.Cho nên, những tỉ phú, triệu phú “ĐỎ” Việt nam ngày nay là nguyên nhân gây nên những tệ đoan xã hội, những cảnh khốn cùng mà đại đa số nhân dân đang chịu đựng. Việc bán đất, dâng biển cho Tàu Cộng là một tội ác trời không dung, đất không tha và là một sỉ nhục không thể nào tha thứ được của tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản hiện nay.

Kỷ niệm ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 2010, những chiến sĩ Việt nam Cộng hòa, chủ lực hay các lực lượng bán quân sự, và đồng bào tị nạn Cộng sản nơi Hải ngoại, cùng đồng tâm hướng về nhân dân và Tổ quốc mến yêu, nguyện đấu tranh cho đất nước Việt nam sớm được TỰ DO, DÂN CHỦ, cho dân tộc được sống trong thanh bình , ấm no, hạnh phúc, cho nhân quyền được tôn trọng, và không còn cảnh người bóc lột người.

Cũng trong dịp này, Quân – Dân hải ngoại không quên ghi nhớ công ơn các thương binh, tử sĩ, cùng các chiến hữu đã bỏ mình trong các lao tù Cộng sản; đồng thời chia sẻ những sót xa thương đau của các cô nhi, quả phụ, thân bằng quyến thuộc của biết bao quân nhân đã hy sinh vì tổ quốc, của hàng trăm ngàn đồng hương

đã bỏ mình nơi biển cả mênh mông, trong rừng sâu heo hút trên hành trình đi tìm tự do nơi xứ người.

Chính nghĩa quốc gia sẽ thắng.

Tinh thần ngày Quân lực 19 tháng 6 bất diệt.

Trần Anh Dũng


>> Xem Tiếp!

Wednesday, June 2, 2010

Những hành động đáng chê trách

Nguyễn thị Quảng Bình

Lần đầu tiên tôi tham dự vào bồi thẩm đoàn, được bà Thẩm phán luôn luôn nhắc nhở rằng: “ Quý vị phải nhớ: Một người được xem là vô tội cho đến khi chứng minh không chút nghi ngờ rằng người ấy đã phạm tội, đây là căn bản của chế độ dân chủ pháp trị của đất nước chúng ta”. Từ tiến trình chọn lọc bồi thẩm cho đến khi nghe nhân chứng trình bày , công tố luận tội , luật sư bào chữa và cuối cùng là bồi thẩm đoàn phải nghe đi nghe lại cuộn băng 911, xem xét hình ảnh bằng chứng và bàn bạc thảo luận trong phòng kín hết hai buổi mới đạt đến đồng thuận, tôi nhận thấy mọi việc được tiến hành một cách khá đứng đắn, công bằng và không thiên vị.

Về nhà tôi vẫn suy nghĩ lan man, vừa thán phục cho sự cẩn trọng, công minh (dĩ nhiên là tương đối) của nền tư pháp trong một quốc gia văn minh tự do, vừa nghĩ đến những phiên tòa xét xử các nhà đấu tranh cho dân chủ ở VN. Tôi nghĩ đến bức hình phiên tòa bịt miệng cha Lý, đến những video chiếu cảnh gọi là nhận tội của những người bất đồng chính kiến. Nghĩ đến những tờ báo” lề phải”, truyền thanh truyền hình nhà nước cùng đồng thanh như những cái loa ong óng phỉ báng, bôi nhọ và kết án Đức TGM Ngô Quang Kiệt, DCCT, giáo dân Thái Hà, LM Nguyễn văn Lý, cô luật sư Lê thị Công Nhân, luật sư Nguyễn văn Đài và nhiều chức sắc tôn giáo, nhiều nhà dân chủ khác trước khi phiên tòa xử họ được ấn định.Tôi nghĩ đến những bản án đã được đảng chỉ đạo, tòa chỉ việc mang ra đọc ê a cho có lệ bộ. Tôi nghĩ đến LM Phan văn Lợi, nhà văn Trần khải Thanh Thuỷ bị đưa ra đấu tố trước nhân dân phường. Trong khi đó những tay “sâu dân mọt nước” tham nhũng bạc tỷ, bán đất bán biển, cướp ruộng cướp nhà dân lại ung dung sống nhởn nhơ không ai trừng trị. VN đã được gia nhập WTO, Liên hiệp quốc…đóng vai trò này nọ trong các tổ chức quốc tế nhưng bao giờ cách hành xử mọi rợ được thay đổi, bao giờ nhân phẩm con người đưọc tôn trọng, bao giờ mới là một quốc gia pháp trị.

Tại các quốc gia tự do, vì quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu rất được tôn trọng nên nhiều người Việt tỵ nạn cộng sản vẫn lạm dụng quyền này trong việc phỉ báng bôi nhọ người bất đồng ý kiến hoặc không thuộc phe nhóm mình. Nhất là trong lãnh vực báo chí và internet. Bất cứ ai xử dụng được computer là có quyền viết bài gửi đến các báo giấy hoặc các diễn đàn điện tử hoặc đến từng cá nhân. Thế là tha hồ tung hoành trong làng văn trận bút, đủ mọi thế võ được đưa ra không phân hắc bạch chính tà, vương đạo hay ma giáo, tên tuổi thật hay bút danh. Có những nhà văn nhà báo từng được người biết đến và quý mến bỗng một ngày bị ô danh, thay vì lý tưởng “văn dĩ tải đạo” lại biến ngòi bút thành gươm giáo hại người. Nạn nhân hoặc cô thế đành chịu cho tên tuổi bị vấy bùn nhơ vì không có phương tiện và khả năng viết lách để bào chữa, hoặc chọn cách im lặng để bày tỏ sự khinh bỉ vì “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, hoặc giận dữ phản pháo lại gây nên những trận bút chiến làm ô nhiễm các Diễn Đàn gây nên sự bực mình và hoang mang không ít cho người đọc vì những lời lẽ vô văn hóa của những người không có gì để mất.

Có nh ững ngòi bút được gọi là “tẩm thuốc độc “ chỉ việc bịa đặt dựng đứng ra một điều sai trái hoặc nghe tin đồn đại hoặc chỉ dựa vào sự thật đư ợc cắt xén nửa vời để xuyên tạc rồi phổ biến khắp nơi, và căn cứ trên điều giả trá này cứ thế khai thác thêm và tiếp tay nhau loan truyền đi, người đọc không biết rõ đầu đuôi cứ thấy lập đi lập lại mãi bèn nhập tâm và tin vào điều xuyên tạc đó.

Nếu chúng tôi không lầm thì lối bôi nhọ phỉ báng để gây tiếng xấu cho một người được gọi là “character assassination” tạm dịch là “ám sát nhân cách” , ở đây chẳng có người nào chết nhưng uy tín của họ và gia đình bị tổn thương, thiệt hại đến danh dự, và công việc cũng như những mối giao thiệp trong xã hội. Phải chăng luật Một người được xem là vô tội cho đến khi chứng minh được người ấy phạm tội “A person is presumed innocent until proven guilty beyond a reasonable doubt” người Việt chúng ta không cần biết tới?

Một số báo chí và các cây viết trên những diễn đàn vừa đóng vai người đưa tin, vừa đóng vai công tố viên và kiêm luôn quan tòa để kết án cho tiện việc sổ sách, miễn người mình trù dập không ngóc đầu lên nổi là thỏa mãn rồi. Dù các phương tiện truyền thông cũng có luật lệ nhà nước điều hành nhưng nhiều người không muốn tốn tiền và thì giờ để phải “vô phúc đáo tụng đình” nên những tệ nạn trên vẫn tiếp diễn ngày mỗi tệ hại hơn. Nhất là trong mùa vận động bầu cử, thôi thì bao nhiêu thủ đoạn đưa ra, bao nhiêu chuyện tưởng tượng không bằng cớ được thêu dệt y như thật theo đường lối “lộng giả thành chân”. Thomas Nguyễn , Minh Dương nói riêng cùng nhiều cá nhân và hội đoàn nói chung đang là nạn nhân của sự “oanh kích tự do” nói trên.

Những người am hiểu tình hình, quan tâm đến Cộng Đồng VN Bắc Cali không thể phủ nhận Thomas Nguyễn là một người thường nhiệt thành đi đầu trong các sinh hoạt, là người tận tâm vạch kế hoạch, là bộ óc đã đưa ra nhiều sáng kiến về đủ mọi phương diện như biểu tình chống VC, Bầu Cử CĐ, đặc biệt trong việc tranh đấu cho tên Little Saigon: cuộc họp khoáng đại CĐ ở Unified Event Center, kế hoạch Lá phiếu Sức Mạnh CĐ, đã vẽ kiểu và in ra những sticker dán áo, những khẩu hiệu, những câu viết trên các tấm bảng biểu tình thứ Ba đen cũng như bảng cầm tay trong các buổi điều trần của thành phố,,,và rất nhiều thành tích khác mà giới hạn bài viết không thể kể ra.

Việc phát triển của mạng lưới toàn cầu là cuộc cách mạng tin học giúp kết nối mọi người trên thế giới đồng thời cũng đưa các vụ bôi nhọ phỉ báng lên một tầm vóc tai hại lớn lao hơn.

Như trên chúng tôi đã viết rằng việc “ám sát nhân cách” không chết ai cả, tuy nhiên đối với giới trẻ, giới thanh thiếu niên thì việc không đơn giản như vậy. Có lẽ một số quý vị có biết tin về một em gái người Mỹ sau khi quen biết một người bạn trai trên mạng và thường xuyên email qua lại. Em gái này có tinh thần yếu đuối và tự ti mặc cảm, một hôm người mẹ tìm thấy em treo cổ chết trong tủ áo phòng ngủ. Bà mẹ rất đau khổ và quyết tâm tìm nguyên nhân cái chết của con bằng cách tìm lại những email thì mới biết hôm trước khi tự tử, người thanh niên quen với con bà đã nói một câu sỉ nhục cô bé, đại ý bảo rằng cô ta chết đi thì tốt hơn. Bà mẹ điều tra và tìm được chàng thanh niên đó là chính là người mẹ của một cô bạn học giả danh để trả thù cho con mình bị cô bé đã chết nghỉ chơi. Sự việc trên đã đưa ra tòa án và kết quả ra sao chúng tôi chưa biết.

Ngày 11 tháng 12 năm 2008 cô nữ sinh 16 tuổi Amanda Brownell nằm bất động trên sàn phòng vệ sinh của trường Del Mar High School với dây áo sweatshirt cột quanh cổ. Amanda đã treo cổ tự tử sau khi phải chịu đựng sự sỉ nhục bằng lời nói nhất là bằng những email, những lời cay độc trên các mạng Myspace.com, Facebook và AOL Intant Messaging mà em nhận được tới 3,500 lời nhắn trước khi xảy ra thảm kịch trên. Một học sinh tìm thấy Amanda đã kêu nhà trường cắt dây đem em xuống, làm hô hấp nhân tạo với nỗ lực của lính cứu hỏa để cố cứu sống cô bé. Vì bị mất dưỡng khí trong thời gian khá lâu nên óc em đã không còn hoạt động, dù các bác sĩ đã tận tâm cứu chữa nhưng em phải vào trong viện với tình trạng thực vật. Vào ngày đánh dấu 1 năm tai nạn của Amanda, nhiều thầy cô, bạn học và thành viên nhà thờ cũng như các hội đoàn khác đã thắp nến cầu nguyện tại City Hall SJ và kêu gọi mọi người chú ý đến vấn nạn Cyber Bullying, sách nhiễu trên mạng. Họ gọi đó là một hình thức bạo động giấu mặt, “cyber bullying is a faceless form of violence” và yêu cầu các giới chức có thẩm quyền phải có hành động để ngăn ngừa những điều đáng tiếc trên.

Dĩ nhiên với người lớn thì có lẽ chưa ai muốn kết liễu đời mình vì bị phỉ báng, mạ lỵ trên mạng. Tuy nhiên nếu có lương tri biết phân biệt phải trái, và đạo lý làm người không cho phép ai được bỏ vạ cáo gian, bịa điều đặt chuyện để làm hại người khác về phương diện tinh thần, gia đình và xã hội. Xin muợn lời nhà văn nữ Nguyễn ngọc Tư trong bài TRÊN TAY CÓ ĐÁ gửi đến quý vị đôi dòng để suy gẫm và tìm cho mình một cách hành xử tốt đẹp hơn:

“….Không nén được, bạn xoè tay ra coi và thật kỳ lạ, bạn thấy trên tay mình thiệt tình là có đá. Thiệt tình là bạn đang lăm le chực chờ ném vào người khác, giống hệt cái cách người đời hăng hái ném nhau…..Đôi khi bạn bĩu môi lườm nguýt ai đó, mắng xiên chửi xéo ai đó..mà thấy rõ ràng là mình vừa ném đá vào người ta. Đôi khi viết một đoạn chữ mà thấy lổn nhổn nặng nề như đá. Đôi khi chỉ nói nửa câu mà thấy người nọ rúm ró vì đau. Ném đi rồi thấy sướng phút đó, hể hả phút đó nhưng dường như người không nhẹ bớt, vì cục đá thiên hạ ném trả, bạn nhặt lấy mang theo bên mình, rình chờ cơ hội chọi lại.

Những hòn đá đó không bao giờ rơi xuống đất bởi không người này cất thì người kia cũng cầm. Vì nó mà mình đau nhưng người ta vẫn giữ gìn để tiếp tục làm đau người khác, hòn đá được ném đi ném lại trong một hành trình sát thương không ngơi nghỉ….”.

Trở lại việc vận động bầu cử, cách đây hơn một năm sau ngày bãi nhiệm 3-3-2009, dù mong ước không thành nhưng tinh thần đoàn kết của ngưòi tỵ nạn cộng sản trong Cộng Đồng VN/BC lên cao hơn bao giờ hết. Đó là nguyên nhân thành lập nên Liên Đoàn Cử Tri để cùng kết hợp cử tri VN thành một khối có sức mạnh chính trị đáng kể hầu có thể vận động hữu hiệu cho quyền lợi của người Mỹ gốc Việt tại địa phương cũng như góp phần tranh đấu cho một nước VN dân chủ tự do. Nguyện vọng cao đẹp còn đó nhưng sau ngày ấy nhiều thủ đoạn ám muội đã được đưa ra để phá tan khối đoàn kết này.

Hôm nay chúng ta có một cơ hội thứ hai để bà nghị viên bất xứng Madison phải xuống khỏi ghế Nghị viên Khu vực 7. Chúng ta cũng không quên những lời sỉ nhục người ủng hộ tên Little Saigon là”thiểu số to mồm”, Chuck Reed đã từng đeo đuổi, gắn bó với CĐVN để được ghế Nghị viên khu vực 4 rồi thành Thị Trưởng thành phố San Jose. Nhưng ông ta và bà Madison đã hành xử thiếu dân chủ và thiếu thành tín. “Người ta còn nhớ, trong những cuộc vận động tranh cử trước đây, Madison Nguyễn cũng như Chuck Reed đều ve vuốt cộng đồng ngưòi Việt với bao hứa hẹn mỹ miều. Nào là phục vụ quyền lợi cộng đồng người Việt. Nào là sát cánh với dân Việt trong việc phục hồi tự do dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam. Nhưng chỉ một chuyện nhỏ là việc đặt tên cho khu thương mại đường Story mà họ đã phản bội cộng đồng như thế thì trong tương lai ai còn dám tin vào những lời hứa hão huyền của họ?” (Trích Little Saigon, chính trị và cộng đồng của Ngô đức Diễm)

Xin những ai còn tâm huyết và nhiệt thành với nguyện vọng của Cộng Đồng VN hãy bỏ ngoài tai những điều bịa đặt, xảo ngôn, ngoa ngữ và ngụy biện của kẻ xấu, hãy chung tay góp sức yểm trợ một ứng cử viên xứng đáng, đầy đủ khả năng đánh bại Madison trong kỳ bầu cử này là Minh Dương. Chúng ta cũng vận động mọi người bầu cho Thomas Nguyễn vào chức vụ Thị Trưởng San Jose, đây là dịp tốt để mạnh mẽ nói lên sự bất tín nhiệm của chúng ta đối với Chuck Reed, người Thị Trưởng vì quyền lợi phe phái đã chà đạp nguyện vọng và danh dự của Cộng Đồng Việt Nam Bắc Cali.

XIN ĐỒNG HƯƠNG ĐỪNG BỎ QUA CƠ HỘI QUAN TRỌNG NÀY. HÃY THAM GIA BẦU CỬ NGÀY 8-6-2010. BẦU CHO THOMAS NGUYỄN VÀ MINH DƯƠNG.

Nguyễn thị Quảng Bình

>> Xem Tiếp!

Tuesday, May 4, 2010

Thông Báo Của Liên Đoàn Cử Tri

Kính gửi quý đồng hương,

Cuộc bầu cử sơ bộ cho các chức vụ dân cử tại địa phương đang gần kề, Liên Đoàn Cử Tri (LĐCT) xin gửi đến quý đồng hương lịch trình của những ngày quan trọng trong mùa bầu cử năm nay. Đồng thời mời gọi quý vị hằng quan tâm đến sự lớn mạnh của cộng đồng hãy tích cực đi bầu, và dồn phiếu cho các ứng cử viên (ƯCV) xứng đáng nhất.

Sau đây là lịch trình cho mùa bầu cử năm nay:

- Phiếu bầu khiếm diện bắt đầu gửi đến nhà: 10 tháng 5 năm 2010
- Ngày cuối cùng ghi danh đi bầu: 24 tháng 5 năm 2010
- Ngày cuối cùng yêu cầu phiếu khiếm diện: 1 tháng 6 năm 2010
- Ngày bầu cử tại phòng phiếu: 8 tháng 6 năm 2010

Kính thưa quý vị,

Năm nay sẽ có nhiều chức vụ quan trọng được bầu lại, chẳng hạn như: chức vụ Thị Trưởng thành phố San Jose, chức vụ Nghị Viên cho các khu vực 1, 3, 5, 7, và 9, và chức vụ Biện Lý Cuộc. Những người được bầu vào các chức vụ này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, và an ninh của cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản trong vòng 4 năm nữa. Vì vậy việc chọn lựa người tài đức, thanh liêm, biết lắng nghe nguyện vọng của người dân, biết đặt các phúc lợi của người dân lên trên lợi ích cá nhân và phe nhóm là điều rất quan trọng. Nếu 4 năm trước, chúng ta đã vì lầm lẫn bầu cho những kẻ bất xứng, đi ngược lại ý nguyện của người dân thấp cổ bé miệng, và chỉ biết quan tâm phục vụ cho những kẻ lắm bạc nhiều tiền, đây là lúc chúng ta rút lại lá phiếu của mình và dồn cho người xứng đáng hơn.

LĐCT kêu gọi quý đồng hương đã có quốc tịch Hoa Kỳ, nếu chưa ghi danh đi bầu, xin hãy ghi danh ngay từ bây giờ. Quyền bầu cử là một quyền lợi vô cùng quan trọng dành cho những ai là công dân Hoa Kỳ. Đây là quyền lợi giúp những người dân thấp cổ bé miệng như chúng ta có được tiếng nói ảnh hưởng đến những quyết định của các vị dân cử. Mong quý vị xử dụng quyền lợi này ngay hôm nay bằng việc ghi danh đi bầu, ngõ hầu giúp gia tăng sức mạnh chính trị cho cộng đồng chúng ta.

LĐCT cũng tha thiết mời gọi quý đồng hương vì lý do này hay lý do khác thờ ơ với việc bầu cử trong thời gian qua, xin tích cực đi bầu trong năm nay. Xin đừng nghĩ rằng một lá phiếu của quý vị cũng chẳng thấm vào đâu. Thực ra, mỗi lá phiếu là một viên đá giúp xây dựng nền móng vững chắc cho tiếng nói của cộng đồng chúng ta. Mỗi lá phiếu của quý vị sẽ chỉ là những cơn gió thoảng chỉ đủ sức lay động một cánh hoa. Tuy nhiên, nếu kết hợp với hàng ngàn lá phiếu của đồng hương mình, chúng ta sẽ tạo nên một cơn lốc đủ sức ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng của các vị dân cử.

Một lần nữa kính mong quý đồng hương dành chút thời giờ để tìm hiểu về các ƯCV để không bị lầm lẫn bầu chọn những kẻ bất xứng như 4 năm trước. LĐCT ước mong quý đồng hương hưởng ứng lời kêu gọi này và tham gia bầu cử thật đông, đồng thời sáng suốt dồn phiếu cho những ƯCV xứng đáng nhất để phục vụ cho quyền lợi của chúng ta và lấy lại danh dự cho cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản.

Xin quý vị đừng ngần ngại liên lạc với LĐCT tại số 408-591-1699 begin_of_the_skype_highlighting              408-591-1699      end_of_the_skype_highlighting nếu có những thắc mắc hay cần tìm hiểu thêm về các ƯCV. Nếu có thắc mắc về việc bầu cử, hoặc cần giúp đỡ ghi danh đi bầu, LĐCT sẽ có thiện nguyện viên hướng dẫn cho quý vị.

Kính chào đoàn kết.

San Jose ngày 4 tháng 5 năm 2010

TM Hội Đồng Quản Trị
Luật sư Đỗ Doãn Quế

TM Hội Đồng Cố Vấn
Bác sĩ Trần Quyền

TM Ban Chấp Hành
Luật sư Ngô Văn Tiệp



>> Xem Tiếp!

Thursday, April 29, 2010

Sol Sanders: Vietnam, in sadness but not in shame

http://www.washingtontimes.com/news/2010/apr/26/sanders-vietnam-in-sadness-but-not-in-shame/

Việt Nam, Trong Buồn Bã, Nhưng Không Hỗ Thẹn.

Nguyễn Minh Tâm dịch

• Nhân dịp tưởng niệm 35 năm ngày mất Saigon 30/4/75, ký giả Sol Sanders viết bài cảm nghĩ trên nhật báo Washington Times số ra ngày 26/4/2010. Sol Sanders là một cây bút chuyên viết bình luận về những vấn đề chính trị, kinh tế quốc tế. Chúng tôi xin lược dịch dưới đây để chia sẻ cùng qúi độc giả nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư.

TRONG TUẦN LỄ NÀY, hơn một triệu rưỡi người Mỹ gốc Việt sẽ ngậm ngùi khóc thương, tưởng niệm 35 năm ngày Saigon thất thủ, và mất nướcViệt Nam Cộng Hoà thân yêu của họ.

Không chấp nhận những phán xét thường tình, nhiều người Việt Nam vẫn nhớ và vinh danh sự can trường, và những hy sinh cao cả của các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ muốn ghi nhận cuộc đấu tranh anh hùng của binh sĩ Miền Nam Việt Nam trước những nghịch cảnh hết sức oái ăm sau khi quân lực Mỹ rút lui, và Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sự cho họ. May thay, một nhóm học giả mới đây đã tìm cách duyệt xét lại những sai lầm cũ của lịch sử để sửa lại cho rõ, mặc dù họ phải đối đầu với quá trình lịch sử dài về thảm kịch ở Việt Nam bị giới truyền thông Mỹ và giới trí thức khoa bảng bóp méo sự thực.

Những người Việt khóc thương cho quê hương bị mất cũng sẽ nhớ lại những thiệt mạng quá lớn, những đau khổ chập chùng họ từng phải gánh chịu. Chuyện “tắm máu” đã thực sự xảy ra sau ngày Saigon bị mất, nhưng những hiểu biết tầm thường vẫn tìm cách chối bỏ điều này. Hàng ngàn người đã bị chết trong các trại tù “gulag kiểu Việt Nam”, tức các “trại tù cải tạo” của cộng sản. Chính Thủ Tướng (CSVN) Phạm Văn Đồng đã công khai thú nhận có hơn một triệu người bị bắt đi tù. Ngoài ra, không ít người Việt vẫn còn nhớ có khoảng 255,000 thuyền nhân đến được nơi tạm dung trong các trại tị nạn kham khổ,và bị các nước láng giềng xô ra ngoài biển khơi, hàng ngàn người phải chết chìm trong biển cả.

Nhân dịp này, người Việt tha hương cũng không dám coi nhẹ sự mất mát về nhân mạng, và sự hy sinh lớn lao của người Mỹ trong cuộc chiến đấu cao thượng, nhưng kết thúc trong bi thảm. Tưởng niệm ngày mất nước cũng là một cách để kể lại toàn bộ câu chuyện “Việt Nam” cho những người bạn Mỹ, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, họ lớn lên bị nhồi sọ bằng những thông tin bóp méo sự thật của giới truyền thông cũng như của đám trí thức dởm. Nhớ ngày mất nước cũng là dịp để vinh danh hàng ngàn thanh niên Việt đang phục vụ oai hùng trong các đơn vị chiến đấu của quân lực Hoa Kỳ.

Tiếc thay, ở Việt Nam hiện nay tình trạng đàn áp vẫn tiếp tục, không hề giảm bớt. Chế độ cộng sản ngược đãi tôn giáo và những sắc dân thiểu số, cũng như dùng biện pháp đàn áp cứng rắn để tận diệt những thành phần đối kháng chính trị. Bộ chính trị là cơ quan chỉ đạo cái quốc gia độc đảng này. Trong lúc đó ở bộ chính trị luôn luôn có tình trạng tranh dành, tị hiềm cá nhân, và khủng hoảng ý thức hệ. Tình trạng tồi tệ đến nỗi chúng công khai bắt giam một tổng biên tập tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản sau khi ông ta viết một bài ý kiến chống Trung Quốc. Và chưa hết, kể từ năm 1995, sau khi Thượng Nghị Sĩ John McCain ở Arizona, và John Kerry ở Massachussetts cố tìm cách đẩy mạnh việc Hoa Kỳ thừa nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hai ông này đều là cựu chiến binh ở Việt Nam đã cố gắng làm lợi cho Cộng Sản Việt Nam mà chẳng đòi hỏi được gì cho Hoa Kỳ cả. Các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn mù tịt không hiểu gì về bản chất thực sự của chế độ. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ quá ngây thơ, và hạ mình nhượng bộ cho Hà Nội nhiều đặc lợi về mậu dịch và kinh tế với hy vọng sẽ phát huy được sự cởi mở về chính trị. Nhưng cố gắng này trở thành vô ích.

Mặc dù nhóm phát triển kinh tế của Việt Nam đã chọn đường lối phát triển theo “mô hình Trung Quốc.” từ lâu. Họ vứt bỏ đường lối hoạch định từ trung ương kiểu Nga Xô, nhưng sự dốt nát bất lực, và tình trạng tham nhũng bất trị đưa đến sự thiếu thốn về mọi mặt, lạm phát tăng cao, và nợ nần chồng chất. Trong lúc đó, với đầu óc kinh doanh cứng cỏi của người Việt, và lòng hiếu học sẵn có trong truyền thống, khối dân số trẻ trung, gần 90 triệu người ở Việt Nam đã phát triển tổng sản lượng quốc gia tăng lên rất nhiều. Lòng hiếu học của người Việt được tìm thấy qua những tiếng vang về sự thành công của nhiều cộng đồng di dân gốcViệt rải rác trên khắp nước Mỹ.

Điều trớ trêu ở chỗ là số tiền của người Việt di cư sang Mỹ gởi về giúp cho thân nhân kém may mắn ở trong nước đã trở thành nguồn yểm trợ kinh tế mạnh nhất cho chế độ bạo ngược này, chẳng hạn như năm 2008, người Việt di cư gởi về $8 tỉ đô la. Con số đó còn cao hơn cả con số $5 tỉ đô la tiền viện trợ hàng năm qua các tổ chức đa phương hay những chương trình viện trợ song phương cho Việt Nam. Tổng số tiền kiều hối đóng góp khoảng 5% cho Tổng Sản Lượng QuốcGia –GDP, cộng thêm với số tiền của nửa triệu công nhân đi làm lao động nước ngoài gởi về, và một khoản tiền khác do 400,000 du khách gốc Việt đem về hàng năm. Nguồn tư bản do người Việt sống tại Mỹ thường được gởi qua hệ thống chợ đen, giúp các tiểu thương biến thành phố Hồ Chí Minh- Saigon ngày trước- trở thành đầu tầu kéo vực dậy nền kinh tế, đó cũng là một con bò sữa vắt ra đô la cho bọn chính quyền tham nhũng ở Hà Nội bòn rút. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, với nguồn tư bản đầu tư đăng nhập lên đến $1 tỉ đô la. Còn phải kể ra nhiều dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, nếu họ không bị rơi vào mạng lưới tham nhũng, hối lộ của các tay đầu sỏ ở chính quyền trung ương tại Hà Nội, cũng như những tay tỉnh ủy ở điạ phương.

Nỗ lực tìm cách giảm ảnh hưởng xấu của tình trạng khan hiếm tín dụng, và suy thoái kinh tế, các nhà làm kế hoạch cộng sản tung thêm vào thị trường tiền tệ hơn 1 tỉ đô la trong năm 2009 - khoảng hơn 1 % Tổng Sản Lượng Quốc Gia. Nhưng kết quả là tuy tình trạng cấp tín dụng có được mở rộng thêm khoảng 40%, nhưng giá đồng đô la lại tăng vọt, mặc dù chính phủ đã can thiệp bằng hai lần định giá lại tiền tệ.

Vì trị giá đồng đô la tăng, các nhà xuất cảng gặp khó khăn trong việc tìm đô la để tài trợ khoản nhập cảng nguyên vật liệu và yếu tố thành phẩm, trong lúc phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc, được chính phủ trợ cấp rất nhiều. Và cứ như thế, dự trữ bằng ngoại tệ vơi đi rất nhanh. Giới kinh doanh lo ngại sẽ phải đối đầu với tình trạng lạm phát khá nặng, nặng hơn cả kỳ lạm phát xảy ra vào năm 2008.

Vất vả tranh đấu với cuộc sống hàng ngày, giới trẻ Việt Nam ngày nay, nhất là những thành phần không có việc làm, coi chuyện chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ là chuyện đã đi vào trong qúa khứ xa xưa, họ chẳng thèm bàn tới chuyện “Việt Nam”, như những câu chuyện vẫn còn ám ảnh ở Hoa Kỳ. Ví dụ ba cái phim về chiến tranh Việt Nam của điện ảnh Hollywood, tuy vẫn còn hấp dẫn trong văn hoá bình dân Mỹ, song không còn lôi cuốn người xem xi nê ở Việt Nam.

Điều quan trọng hơn trong lúc này đối với người Việt là họ ngoảnh cổ nhìn sang nước láng giềng bên cạnh, Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của người Việt. Mặc dù sau cuộc chiến tranh ngắn, nhưng cay đắng, xảy ra vào năm 1979, trong đó, Hà Nội đánh sặc máu mũi Bắc Kinh, hai nước đã đạt được những thoả uớc về biên giới, nhưng giờ đây mối tranh chấp vẫn còn tiếp diễn về chủ quyền trên các hòn đảo trong Biển Nam Hải. Và số lượng hàng nhập khẩu rất lớn của Trung quốc được bí mật đưa vào Việt Nam khiến cho các ngành công nghiệp thô sơ của Việt Nam bị xoá sạch ở miền Bắc.

Các bài viết trên những Blog liên mạng ở hai bên liên tiếp đả kích nhau dựa trên tinh thần yêu nước xô vanh, xoay quanh những vấn đề cũ. Và hiện nay mọi người đang trông chờ sẽ có một biến cố mới, ngoạn mục để chấm dứt tình trạng khó chịu, làm buồn lòng cả đôi bên.

Nguyễn Minh Tâm dịch ngày 28/4/10

--------------------------------------------------------------------


SANDERS: Vietnam, in sadness but not in shame

By Sol Sanders

ANALYSIS/OPINION:

America's more than 1.5 million Vietnamese-Americans this week will mourn the 35th anniversary of the fall of Saigon and the Republic of [South] Vietnam.

Defying conventional wisdom, many will remember and honor the bravery and sacrifice of the Army of the Republic of Vietnam. They want recognition for the heroic struggle that South Vietnamese troops put up against overwhelming odds after the withdrawal of American forces and the cutoff of U.S. military aid. Fortunately, a new group of revisionist scholars is setting the record straight, even in the face of the long history of American media and academic malfeasance on the Vietnam disaster.

The mourners also will recall the enormous loss of life and suffering — "the bloodbath" which, again, conventional wisdom has tried to deny — that followed Saigon's fall. Thousands died in "the Vietnamese gulag," communist "re-education camps" where Prime Minister Pham Van Dong publicly admitted that more than 1 million people had been imprisoned. Few but the Vietnamese remember that in addition to the 255,000 boat people who reached the shelter of the miserable refugee camps, thousands drowned at sea, often refused entry by neighboring countries.

That is not in any way to minimize the enormous loss of life and the sacrifice of Americans in what was a noble if tragic struggle. But it is an effort to retell the whole story of "Vietnam" for fellow Americans, particularly younger generations who have grown up amid a vast media and pseudo-scholarly distortion of facts. The remembrance also glories in the thousands of young Vietnamese now serving with distinction in the U.S. armed forces.

Unfortunately, in Vietnam itself, the oppression continues unabated. The communist regime persecutes religious and ethnic minorities, and in its own ham-handed way, attempts to stamp out political dissent. An endlessly feuding politburo guides the one-party state — so enmeshed in petty personal rivalries and ideological confusion that it publicly arrested the Communist Party official newspaper editor after he wrote an anti-Chinese editorial. And, since 1995, when Sens. John McCain of Arizona and John Kerry of Massachusetts — both veterans of the war — pushed for U.S. diplomatic recognition without quid pro quos, official Washington has obfuscated the true nature of the regime. U.S. policy has naively and ignominiously sought favor with Hanoi through economic and trade concessions in a fruitless effort to promote political liberalization.

Although Vietnam's economic team long ago adopted "the Chinese model," tattered Soviet-style central planning, incompetence and unbridled corruption have led to shortages, inflation and rising debt. Nevertheless, the indomitable Vietnamese entrepreneur, with his traditional thirst for education that finds an echo in the success of America's Vietnamese immigrant communities, has produced a growing gross national product for a youthful population nearing 90 million.

Ironically, remittances from the American emigres to unfortunate relatives left behind has been the most powerful economic prop for the regime, totaling as much as $8 billion in 2008. That compares with $5 billion annually in aid from the multilateral agencies and bilateral aid programs. These remittances contribute 5 percent of the GDP, adding to the money sent home by a half-million workers abroad and spending by another 400,000 ethnic Vietnamese tourists annually. Capital from the American emigres, often arriving via the black market, funds small entrepreneurs who make Greater Ho Chi Minh City-Saigon the country's overwhelming economic hub, the cash cow for Hanoi's kleptocrats. The U.S. remains Vietnam's largest official investor as well, with some $1 billion in registered capital. More foreign investment would come were it not for the tangle of kickbacks and intrigues between the central Hanoi government and regional party bosses.

Trying to counteract the effects of the worldwide credit crunch and recession, the communist planners in 2009 threw more than $1 billion — over 1 percent of GDP — at the currency. But while credit expanded by nearly 40 percent, the price of dollars soared despite two massive devaluations.

Exporters, struggling with the high-priced dollar, have difficulty financing dollar imports of raw materials and components in the battle against their heavily subsidized Chinese competitors. And foreign exchange outflows are draining reserves. The business community is bracing for another round of inflation, probably even greater than the crisis year of 2008.

The struggles of daily life, especially among the unemployed youths for whom both the French and American wars are a distant past, ignore the continued preoccupation with "Vietnam" in the United States. Hollywood's Vietnam War movies, for example, despite the widespread appeal of American popular culture, have elicited little interest.

Much more important now, the Vietnamese look over their shoulder at their neighbor and traditional enemy, China. Despite border agreements following the short but bitter war in 1979 in which Hanoi bloodied Beijing's nose, disputes continue over islands in the South China Sea. And a flood of clandestine Chinese imports have wiped out many of Vietnam's cottage industries in the north.

Bloggers on both sides keep up a steady chauvinist debate over old issues. And everyone waits for some new and spectacular development that will end the current malaise.

• Sol Sanders, veteran foreign correspondent and analyst, writes weekly on the convergence of international politics, business and economics. He can be reached at solsanders@cox.net Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. .

>> Xem Tiếp!

Sunday, April 11, 2010

Một lần chào cuối cùng của đời quân ngũ

Trương Quang Chung

Sau 30.4.1975, người Việt tản mát trên khắp thế giới để tỵ nạn cộng sản. Trên Sách Vở, Báo Chí, Hồi Ký, Bút Ký, trên Ðài Truyền Thanh, Truyền Hình, trong các Ðại Nhạc Hội, những lúc Hội Họp các Ðoàn Thể chính trị hay các Tổ Chức khác, trong lúc ngồi nói chuyện quá khứ với nhau, đôi lúc cũng nhắc đến cái chết của những vị Tướng lãnh hay các Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cái chết đó phải được vinh danh một cách trang trọng xứng đáng, phải được ghi vào Lịch Sử để con cháu chúng ta sau này biết đến sự tuẫn tiết của cha anh họ.

Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con ngày 29.3.1975 tại Ðà Nẵng.

***

Tám giờ sáng ngày 28.3.1975, Tiểu Ðoàn tôi được lệnh rút về tuyến ‘’vàng’’ phòng thủ, giữ phía Tây Nam của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ Pháo Ðội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là Trục Lộ 14C từ Quận Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức thuộc Tỉnh Quảng Nam. Tiểu Ðoàn chịu trách nhiệm từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km). Tiểu Ðoàn di chuyển đến địa điểm lúc 10 giờ sáng, đã thấy vài khẩu đại bác 105 ly đã có sẵn ở các ruộng khô cách Tỉnh Lộ 14C khoảng 50 mét.

Sau khi liên lạc với vị Pháo Ðội Trưởng để bàn hoạch phương thức bảo vệ Pháo Ðội, tôi ra lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ định vị trí cho từng Ðại Ðội. Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn ở gần Pháo Ðội. Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, vị Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng báo cho tôi biết là họ được lệnh rút lui sau. Tôi không thắc mắc vì Pháo Binh luôn luôn ở sau để yểm trợ. Tuy nhiên, tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 của tôi gọi về Tiểu Khu hỏi xem chúng tôi có theo họ để bảo vệ súng không?

Hai giờ 30 chiều hôm đó Sĩ Quan Ban 3 của tôi báo cho tôi biết là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã thông báo là dời về Non Nước.

Lúc này, tôi có phần bi quan vì theo dõi tin tức qua máy trên các tầng số của các Ðơn Vị ở Vùng I mà chúng tôi có trong đặc lệnh truyền tin.

Bốn giờ chiều, tôi hoàn toàn không liên lạc được với Liên Ðoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành Chỉ Huy mà Tiểu Ðoàn tôi trực thuộc. Tiểu khu cũng biệt vô âm tín.

Tôi gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Ðoàn I cũng như của Sư Ðoàn 3, họ quá bận rộn với nhiều Ðơn Vị nên khó chen vào được.

Tôi mời các Ðại Ðội Trưởng và Sĩ Quan Tham Mưu đến cho biết tình hình và bàn kế hoạch. Bây giờ tôi không còn ai Chỉ Huy nữa nên tôi quyết định rút Tiểu Ðoàn về Hội An để vào Tiểu Khu xem sự việc đồng thời đó là con đường tương đối an toàn và gần nhất để ra Ðà Nẵng.

Ðơn Vị ra Quốc Lộ 1 thì dân, lính họ chạy về Ðà Nẵng quá sức tưởng tượng. Họ đang chạy giặc. Tình hình quá bi đát, một thoáng suy nghĩ trong đầu, tôi ra lệnh tất cả dừng lại ở trong Làng cách Quốc Lộ 100 mét, chờ lệnh tôi vì tôi sợ Lính ra đây thấy cảnh đó thì bỏ Ðơn Vị về lo cho gia đình.

Tôi tiến sát Quốc Lộ 1 để xem tình hình thì gặp Trung Tá Nguyễn Tối Lạc, Quận Trưởng Ðức Dục. Ông ta cho biết tất cả các Chi Khu của Quảng Nam đều bỏ cả rồi, Tiểu Khu thì về Ðà Nẵng không liên lạc được. Ông ta còn cho biết thêm là Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 vừa cho lệnh ông là trực thuộc Ðại Tá Vũ Ngọc Hướng, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 2 thuộc Sư Ðoàn 3.

Ðại Tá Hướng chỉ huy luôn các Tiểu Ðoàn của Tiểu Khu Quảng Nam nữa. Trung Tá Lạc chỉ còn một người mang máy truyền tin, một người Lính bảo vệ thôi. Tôi đang đứng với Trung Tá Lạc thì một chiếc chiến xa M-48 từ trong đi ra thấy có Ðại Tá Hướng ngồi trên pháo tháp.

Ông ta thấy tôi liền cho xe dừng lại. Tôi là thuộc quyền của ông lúc ông ta còn là Tiểu Khu Phó Quảng Nam và hỏi tôi:
- Tiểu Ðoàn của mày đâu mà mày đứng đây?
Tôi trả lời:
- Tiểu Ðoàn tôi còn nằm trong Làng này, Ðại Tá.
Tay tôi chỉ vào trong Làng gần đó.
- Có còn đủ không?
- Còn nguyên, chưa đụng trận nào lớn cả, mà chỉ gặp du kích thôi. Bảo đảm Ðại Tá, chắc Ðại Tá biết Tiểu Ðoàn này rồi mà.
- Tao hiểu, mày đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Hinh chưa?
- Tôi chưa nhận lệnh trực tiếp của Thiếu Tướng nhưng đã nghe Trung Tá Lạc nói rồi.
- Tốt, bây giờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu không còn ai nữa, mày trực thuộc Trung Ðoàn tao, mày có tầng số của tao chưa?
- Có đầy đủ ở đặc lệnh truyền tin rồi Ðại Tá. Bây giờ Ðại Tá cho lệnh thế nào?
- Theo lệnh Thiếu Tướng, mày cho Tiểu Ðoàn về Hội An phòng thủ với Trung Ðoàn. Ðến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để nhận lệnh chi tiết.

Tôi từ giã Ðại Tá Hướng trở lui Tiểu Ðoàn trình bày cuộc nói chuyện và lệnh của Ðại Tá Hướng cũng như Trung Tá Lạc cho các Sĩ Quan nghe. Sau một hồi thảo luận, cuối cùng tôi nói: Bây giờ chúng ta về Hội An như ý định của chúng ta đã nói. Trên vấn đề quân sự, chúng ta đặt dưới quyền của Ðại Tá Hướng,nếu hữu sự, chúng ta có Lực lượng quân sự cùng chiến đấu. Về đó tùy tình hình ta xử trí sau.

Tại Hội An chúng ta có các điểm lợi sau:
- Về địa thế chúng ta đã rõ như trong vòng bàn tay.
- Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung Tâm Tiếp Vận Quảng Nam của Tiểu Khu, chúng ta xử dụng nếu chiến đấu nhiều ngày.
- Nếu, có Lính chết hay Bị Thương thì có Bệnh Viện Hội An có phương tiện cấp cứu, có Bác sĩ Trung Ðoàn 2 và Y tá.

Liên Tỉnh lộ 13C từ Ðà Nẵng đi Hội An tương đối an toàn để chúng ta về Ðà Nẵng.

Tôi đã trình bày những điểm lợi hại cho các Sĩ Quan rõ,tôi nói tiếp:
-Nếu phải bỏ Ðà Nẵng như ở Huế và Vùng II thì tôi sẽ vào trình diện Quân Ðoàn để được giúp đỡ vì Tiểu Ðoàn mình còn nguyên chưa bị tổn thất thì thế nào Quân Ðoàn cũng lo cho mình vào Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Nếu tận cùng mình dùng quân số đông để áp đảo Hải Quân, yêu cầu được chở vào Nam chiến đấu.

Bây giờ đã 6 giờ chiều, mặc dù còn ánh nắng mặt trời, dân chúng cũng như Binh Sĩ chạy về Ðà Nẵng quá nhiều nên di chuyển Ðơn Vị lớn như thế rất khó khăn, dễ bị thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Ðại Ðội Trưởng, Trung Ðội Trưởng phải bám sát Binh Sĩ của mình đừng cho thất lạc. Nếu thất lạc, họ phải đến điểm tập trung là Ty Công Chánh Hội An. Ðó là điểm tập trung của Tiểu Ðoàn, đừng vào Tiểu Khu. Tôi căn dặn thật kỹ các Ðại Ðội phải ban hành lệnh đếm từng người Lính để họ nắm rõ điểm tập họp.

Sáu giờ 30, Tiểu Ðoàn bắt đầu hướng về Hội An. Lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh Tiểu Khu Quảng Ngãi, Quảng Tín kéo về như kiến cỏ. Họ không còn người Chỉ Huy nên hoàn toàn vô trật tự, vô kỷ luật, chỉ cần một hành động vô ý thức làm chạm tự ái, họ có thể bắn mình một cách dễ dàng.

Tôi đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung, hai Ðại Ðội đầu đã có mặt. Tôi ra lệnh phòng thủ và đợi Tiểu Ðoàn đến cho đầy đủ. Tôi vào Tiểu Khu để gặp Ðại Tá Hướng nhận lệnh.

Mười hai giờ, Tiểu Ðoàn đã đến đầy đủ. Ðại Úy Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn, cho tôi biết quân số lúc đó là 470 người. Các Sĩ Quan có đủ, có 20 thường dân là thân nhân của các Quân Nhân của Tiểu Ðoàn theo họ (họ hy vọng nếu có vào Sài Gòn thì họ cùng Tiểu Ðoàn vào Nam được dễ dàng hơn) vì lúc ở Ðiện Bàn, các gia đình này ở đó nên họ biết có Tiểu Ðoàn về nên đem theo luôn.

Có 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác thuộc Tiểu Khu Quảng Nam đã thất lạc Ðơn Vị nay muốn theo chúng tôi. Tôi nói với 50 Quân Nhân này, tôi chấp thuận cho họ ở với Tiểu Ðoàn với điều kiện phải tuyệt đối tuân hành lệnh của các Sĩ Quan Tiểu Ðoàn, nếu bất tuân, tôi ra lệnh bắn bỏ, nhất là lúc đụng trận. Tôi sẽ cho họ về Ðơn Vị gốc khi tôi gặp Ðơn Vị đó. Tất cả họ đồng ý và tôi phân chia cho các Ðại Ðội tác chiến ngay.

Riêng 20 thường dân (trong số này, tôi đã biết họ vì trước đây tôi có đến nhà họ lúc thuận tiện), Tôi ra lệnh cho Trung Sĩ I Thoảng chịu trách nhiệm vì Trung Sĩ I Thoảng là Hạ Sĩ Quan Ban 5 của Tiểu Ðoàn (Trung Úy Trưởng Ban 5 vắng) đồng thời tôi giới thiệu Trung Sĩ I Thoảng cho họ biết và nói: ‘’Bà con là thân nhân của Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn tôi, tôi có nhiệm vụ bảo vệ bà con như bảo vệ Lính tôi vậy. Nếu đụng trận bà con nghe lệnh của Trung Sĩ I Thoảng để được an toàn, đừng chạy lộn xộn mà chết, Tiểu Ðoàn đến đâu, tôi đem bà con theo đó’’. Họ hiểu ý tôi nên rất hoan hỉ.

Thành Phố Hội An bây giờ trống vắng, 99% đều bỏ ra Ðà Nẵng lánh nạn. Tiểu Ðoàn rời Ty Công Chánh Quảng Nam để đến vị trí phòng thủ theo lệnh Ðại Tá Hướng. Ðó là hướng Bắc Hội An trên đường ra Ðà Nẵng. Trước khi đi, tôi còn để lại một Tiểu Ðội, một máy truyền tin do một Trung Sĩ của Ban 2 Chỉ Huy để đón nhận những người đến muộn.

Tại vị trí phòng thủ mới, tôi quá mỏi mệt, tinh thần căng thẳng. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì Hạ Sĩ I Minh bưng đến một tô cháo và một ly cà phê sữa đang nóng và nói:
-Mấy ngày nay Thiếu Tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước không, lo suy nghĩ nhiều, em thấy Thiếu Tá ốm đó nghe. Thiếu Tá ăn tô cháo hầm bồ câu và uống ly cà phê để có sức đánh giặc chứ. Tôi đang lo lắng, định bảo dẹp đi, nhưng thấy thuộc cấp của mình thương mình, lo cho mình như thế nên không đành và nói:
- Mấy ông kia ăn chưa? Bồ câu đâu mày có?
- Thưa Thiếu Tá, lúc nãy ở Ty Công Chánh có chuồng bồ câu có lẽ của ông Trưởng Ty đã bỏ đi rồi, nên em bắt 4 con, em biết Ðại Bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có khỏe mới giết được việt cộng chứ Ðại Bàng.
- Thôi được, để đó, đừng mắc võng nữa nghe. Từ sáng đến giờ, tôi chỉ uống nước không ăn gì ngoài một tô mì gói có đập vào hai hột gà cũng do Hạ Sĩ I Minh làm mà thôi. Cảm thấy đói, hớp mấy miếng cà phê, ăn được gần nửa tô cháo thì nghe tiếng trực thăng, tôi nhìn ra thì thấy từ hướng Quân Ðoàn I có hai chiếc máy bay bay vào khá cao. Tôi bảo Trung Úy Bình, Sĩ Quan Truyền Tin mở máy qua tần số Quân Ðoàn liên lạc xem sao. Không liên lạc được mặc dù Bình đã có tất cả đặc lệnh truyền tin trong tay, đã liên lạc nhiều tần số và nhiều giới chức có thể đi bằng máy bay nhưng vô hiệu. Tôi biết chắc đó là máy bay Quân Ðoàn, nhưng không biết giới chức nào mà thôi. Lúc này, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 gọi các Ðại Ðội Trưởng về họp đồng thời thu hết Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh trở về Tiểu Ðoàn. Tôi còn ra lệnh Ðại Úy Hà Thúc Thuyên đi với một máy, vài Lính bảo vệ đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu xem Ðại Tá Hướng thế nào mà không liên lạc được.

Bây giờ là 2 giờ sáng ngày 29.3.1975. Ðại Úy Thuyên báo Trung Ðoàn 2 đã âm thầm ra hướng biển để về Ðà Nẵng. Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh đã đến Tiểu Ðoàn mang theo 9 người Lính đến muộn. Tôi cho về lại Ðại Ðội của họ cả. Như thế giờ này Tiểu Ðoàn có 479 Quân Nhân tham chiến chưa kể 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác đi theo. Sau một hồi bàn thảo của Sĩ Quan Tham Mưu và các Ðại Ðội Trưởng, tất cả quyết định rút về Ðà Nẵng, vào trình diện Quân Ðoàn.

Tôi hoàn toàn đồng ý và trình bày:
-Bây giờ còn sớm, chưa tới 3 giờ, chúng ta đến Chùa Non Nước sẽ gặp Ðơn Vị phòng thủ Quân Ðoàn ở đó trời chưa sáng, họ không nhận diện được ta có thể ngộ nhận và bắn lầm. Tôi quyết định 4 giờ sáng chúng ta xuất phát theo đội hình Ðại Ðội 1 đi dẫn đầu, Ðại Ðội 3 bên trái, Ðại Ðội 4 bên phải, Ðại Úy Thuyên Tiểu Ðoàn Phó đi với Ðại Ðội này vì có Trung Ðoàn 2 đi ra biển, nếu gặp tiện việc liên lạc hàng ngang tránh ngộ nhận. Ðại Ðội 2 đi sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn đi giữa, gia đình đi sau Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn. Trên đường đi nếu chạm địch, chúng ta phải yểm trợ nhau đưa nhau về Ðà Nẵng. Tất cả, nếu không ai có ý kiến gì khác thì về Ðơn Vị chuẩn bị lên đường khi có lệnh.

Ðúng 4 giờ sáng ngày 29.3.1975, Tiểu Ðoàn bắt đầu di chuyển thứ tự theo lệnh như đã phân nhiệm. Trên đường đi, chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chỉ gặp vài du kích bắn lẻ tẻ,vô sự, các Ðại Ðội phản ứng nhưng vẫn tiến quân. Gần 9 giờ sáng, Ðại Ðội đầu do Trung Úy Thành Chỉ Huy báo cáo đã đến Non Nước, gặp Ðơn Vị bạn, đã nhận diện và nói chuyện vời nhau. Trung Úy Thành nói chuyện đã gặp một Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang ngồi trên chiến xa nói là họ được lệnh không cho một Quân Nhân nào vào Ðà Nẵng mà mang súng, muốn vào phải bỏ súng ở đây. Tôi nghe cũng ngạc nhiên. Lính mà không cho mang súng thì đánh giặc bằng gì, ôm mà cắn hả? Lệnh gì kỳ cục vậy.

Tôi nói cho Trung Úy Thành ra lệnh cho Binh Sĩ đứng tại chỗ, cấm phản ứng để tôi lên tiếp xúc. Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý là các Ðại Ðội thu hẹp gần Tiểu Ðoàn, bố trí tại chỗ chờ lệnh và nói Ðại Úy Thuyên đến gặp tôi. Trên con đường đến gặp Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tôi suy nghĩ: Tình hình an ninh Ðà Nẵng rất xấu, đã có việt cộng cải trang thành lính xâm nhập rồi, nên mới có lệnh đó.

Tôi gặp vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và trình bày sự việc để xin được vào Ðà Nẵng. Ông ta dứt khoát và bảo đó là lệnh, tôi không thể sai được. Tôi cũng biết lệnh của Quân Ðội, tôi nói tình lý cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và gần như năng nỉ. Ông ta mềm lòng và nói để hỏi lại cấp trên.

Tôi tìm hiểu Thiếu Tá Ðịnh là cấp trên của ông ta vì Thiếu Tá Ðịnh học chung một Khóa Bộ Binh cao cấp với tôi năm 1973 ngủ chung một phòng, cùng người Huế, nên chúng tôi cũng thân nhau. Tôi cũng nói cho ông ta biết là tôi cũng là bạn thân với Thiếu Tá Ðịnh, Tiểu Ðoàn Trưởng Thủy Quân Lục Chiến, vị Ðại Úy này xác nhận là Thiếu Tá Ðịnh là Tiểu Ðoàn Trưởng của ông ta. Ông ta nói chuyện với Thiếu Tá Ðịnh sau đó trao máy cho tôi để nói chuyện. Thiếu Tá Ðịnh cho tôi biết Quân Ðoàn đã đi hết, đã bỏ ngõ, Thủy Quân Lục Chiến cũng đang tự tìm cách về Sài Gòn chưa biết tính sao đây. Thế là hết! Tôi trả máy cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến.

Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý gọi tất cả Sĩ Quan đến gặp tôi. Bây giờ là 9 giờ 30 sáng ngày 29.3.1975 tại Chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến cũng báo cho tôi biết là tôi được tự do vào Ðà Nẵng. Tôi chỉ nói cám ơn. Chiến xa nổ máy quay đầu chạy lui về Ðà Nẵng có tùng thiết Thủy Quân Lục Chiến theo. Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến cũng cho tôi biết không còn phương tiện vào Sài Gòn nữa, chính Ðơn Vị ông ta cũng phải tự lo liệu lấy. Không ai Chỉ Huy nữa. Hải Quân ở Tiên Sa cũng nhổ neo hết rồi.

Tất cả Sĩ Quan có mặt. Tôi trình bày tình hình Quân Ðoàn, Hải Quân do Thiếu Tá Ðịnh cho biết chính ông ta cũng không biết xử trí thế nào. Tôi nói:
- Tôi đã cùng Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn chiến đấu bên nhau bấy lâu nay, nhất là sau Tết cho đến bây giờ, tình hình chiến sự sôi động, gian lao khổ cực cùng anh em. Tôi đã đoán được tình hình, cố gắng đưa Tiểu Ðoàn về đây để được cùng nhau vào Sài Gòn tiếp tục chiến đấu, nhưng bây giờ sự việc xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta, tôi rất đau khổ về sự việc này.

Tôi cũng kể về sự tiếp xúc của tôi và Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến, sự suy luận của tôi, sự hiểu biết về tình hình của tôi cho tất cả nghe và nói tiếp:
- Không nên tập trung cả Ðại Ðội, sợ bị tấn công bất thường, chỉ từng Trung Ðội giải thích cho họ hiểu, thông cảm tìm cách vào Sài Gòn hoặc về gia đình tùy ý. Quyền Chỉ Huy bây giờ tùy nghi các anh lo liệu. Nếu ai về nhà thì vũ khí nên phá hủy đừng để lọt vào tay việt cộng. Các bạn tự do thi hành theo ý mình, điều cần nhất là phải an ủi, giải thích cho Lính hiểu tâm trạng của chúng ta bây giờ.

Có nhiều người lưỡng lự chưa muốn đi. Lúc này tôi như cái xác không hồn, ngồi xuống đất, dựa vào cổng trụ cửa ngõ của một nhà bên đường xem phản ứng của Quân Nhân các cấp của Tiểu Ðoàn như thế nào. Các Sĩ Quan đã đến chia xẻ sự đau khổ của tôi, mỗi người một ý.

Mười giờ 30 sáng ngày 29.3.1975. Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung Ðội Tình Báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân.

Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng đến đứng trước mặt tôi nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồi nói:
- Chắc em không vào Sài Gòn đâu Thiếu Tá. Cả Quân Ðoàn không một trận đánh nào mà đã bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi. Em chúc Thiếu Tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.

Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã,tôi nói:
- Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa Ðơn Vị về tới đây để cùng vào Nam song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay tao rồi.

Vợ Trung Sĩ I Thoảng và 2 con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi cùng đi với Tiểu Ðoàn từ hôm qua. Chị ta bước tới trước mặt tôi và nói:
- Em chúc Thiếu Tá lên đường bình an vào cho được Sài Gòn nghe Thiếu Tá, chứ việt cộng đến cỡ Thiếu Tá nó giết chứ không tha đâu.

Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng bên mẹ, có lẽ phản ứng lịch sự đối với đàn bà chứ tôi đã có đến nhà chị ta mấy lần rồi, nên cũng thường thôi. Tôi nói:
- Tôi cũng không biết có đi được không, đến đâu hay đó, Thoảng thì chắc nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ mà là chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
- Cám ơn Thiếu Tá, chúc Thiếu Tá thượng lộ bình an. Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa.

Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:
-Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống chắc không can gì đâu. Anh ta đến chào Ðại Úy Hà Thúc Thuyên Tiểu Ðoàn Phó, Ðại Úy Lê Ngọc Nhựt Trưởng Ban 2 Tiểu Ðoàn và Ðại Úy Huỳnh Văn Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn rồi từ giã ra đi. Ðến lúc này chỉ còn những Sĩ Quan đó và khoảng 20 Lính của Trung Ðội Tình Báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Ðại Úy Thuyên đến nói:
-Thôi mình cứ về Ðà Nẵng rồi hãy tính. Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe một tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi phản ứng ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến.

Tôi nói:
-Minh, mày ra xem cái gì đó? Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút chạy lui,trả lời:
- Thiếu Tá ơi! Ông Trung Sĩ I Thoảng tự tử bằng lựu đạn với vợ con ông ta rồi.

Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên tôi bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gởi trối trăn của thuộc cấp sắp chết mặc dầu tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ nhưng tôi tự kềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảnh của tôi. Thế mà hôm nay không hiểu sao tôi lại bật khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần khóc cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi hỏi:
- Nó chết ở đâu.
- Ông chết ở nhà kia.

Theo tay chỉ của Minh thì sau căn nhà tôi đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người Lính bảo vệ tôi cũng đi theo. Căn nhà tôn nhỏ xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi hài không toàn vẹn, một xách áo quần, mền còn để lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, thịt tung tóe dính cả vào tường. Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các Binh Sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường.

Bây giờ là 11 giờ ngày 29.3.1975. Một Trung Sĩ I cấp bậc quá nhỏ so với tôi, một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng có lúc gọi bằng ‘’thằng’’, một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi như thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la đôi khi còn nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi là Ông, Ông Thoảng với lòng tôn kính vì đây là một Vị Anh Hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với cộng sản. Hôm nay tôi viết để vinh danh một Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho con cháu sau này biết đến. Xin nghiêng mình tôn vinh một Vị Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hai giờ chiều ngày 29.3.1975, việt cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Ðà Nẵng.
Nguồn: http://batkhuat.net/tl-cuoidoi-quanngu.htm

>> Xem Tiếp!

Monday, April 5, 2010

Hãy Chụp Giùm Tôi

Hãy Chụp Giùm Tôi

Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà "đổi mới",
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.

Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.

Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
Đừng khoe tôi những con phố "bưng biền",
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.

Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
x
x x
Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.

Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.

Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.

Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.

Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.
x
x x
Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!

Trần Văn Lương
Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010

>> Xem Tiếp!