http://www.washingtontimes.com/news/2010/apr/26/sanders-vietnam-in-sadness-but-not-in-shame/
Việt Nam, Trong Buồn Bã, Nhưng Không Hỗ Thẹn.
Nguyễn Minh Tâm dịch
• Nhân dịp tưởng niệm 35 năm ngày mất Saigon 30/4/75, ký giả Sol Sanders viết bài cảm nghĩ trên nhật báo Washington Times số ra ngày 26/4/2010. Sol Sanders là một cây bút chuyên viết bình luận về những vấn đề chính trị, kinh tế quốc tế. Chúng tôi xin lược dịch dưới đây để chia sẻ cùng qúi độc giả nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư.
TRONG TUẦN LỄ NÀY, hơn một triệu rưỡi người Mỹ gốc Việt sẽ ngậm ngùi khóc thương, tưởng niệm 35 năm ngày Saigon thất thủ, và mất nướcViệt Nam Cộng Hoà thân yêu của họ.
Không chấp nhận những phán xét thường tình, nhiều người Việt Nam vẫn nhớ và vinh danh sự can trường, và những hy sinh cao cả của các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ muốn ghi nhận cuộc đấu tranh anh hùng của binh sĩ Miền Nam Việt Nam trước những nghịch cảnh hết sức oái ăm sau khi quân lực Mỹ rút lui, và Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sự cho họ. May thay, một nhóm học giả mới đây đã tìm cách duyệt xét lại những sai lầm cũ của lịch sử để sửa lại cho rõ, mặc dù họ phải đối đầu với quá trình lịch sử dài về thảm kịch ở Việt Nam bị giới truyền thông Mỹ và giới trí thức khoa bảng bóp méo sự thực.
Những người Việt khóc thương cho quê hương bị mất cũng sẽ nhớ lại những thiệt mạng quá lớn, những đau khổ chập chùng họ từng phải gánh chịu. Chuyện “tắm máu” đã thực sự xảy ra sau ngày Saigon bị mất, nhưng những hiểu biết tầm thường vẫn tìm cách chối bỏ điều này. Hàng ngàn người đã bị chết trong các trại tù “gulag kiểu Việt Nam”, tức các “trại tù cải tạo” của cộng sản. Chính Thủ Tướng (CSVN) Phạm Văn Đồng đã công khai thú nhận có hơn một triệu người bị bắt đi tù. Ngoài ra, không ít người Việt vẫn còn nhớ có khoảng 255,000 thuyền nhân đến được nơi tạm dung trong các trại tị nạn kham khổ,và bị các nước láng giềng xô ra ngoài biển khơi, hàng ngàn người phải chết chìm trong biển cả.
Nhân dịp này, người Việt tha hương cũng không dám coi nhẹ sự mất mát về nhân mạng, và sự hy sinh lớn lao của người Mỹ trong cuộc chiến đấu cao thượng, nhưng kết thúc trong bi thảm. Tưởng niệm ngày mất nước cũng là một cách để kể lại toàn bộ câu chuyện “Việt Nam” cho những người bạn Mỹ, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, họ lớn lên bị nhồi sọ bằng những thông tin bóp méo sự thật của giới truyền thông cũng như của đám trí thức dởm. Nhớ ngày mất nước cũng là dịp để vinh danh hàng ngàn thanh niên Việt đang phục vụ oai hùng trong các đơn vị chiến đấu của quân lực Hoa Kỳ.
Tiếc thay, ở Việt Nam hiện nay tình trạng đàn áp vẫn tiếp tục, không hề giảm bớt. Chế độ cộng sản ngược đãi tôn giáo và những sắc dân thiểu số, cũng như dùng biện pháp đàn áp cứng rắn để tận diệt những thành phần đối kháng chính trị. Bộ chính trị là cơ quan chỉ đạo cái quốc gia độc đảng này. Trong lúc đó ở bộ chính trị luôn luôn có tình trạng tranh dành, tị hiềm cá nhân, và khủng hoảng ý thức hệ. Tình trạng tồi tệ đến nỗi chúng công khai bắt giam một tổng biên tập tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản sau khi ông ta viết một bài ý kiến chống Trung Quốc. Và chưa hết, kể từ năm 1995, sau khi Thượng Nghị Sĩ John McCain ở Arizona, và John Kerry ở Massachussetts cố tìm cách đẩy mạnh việc Hoa Kỳ thừa nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hai ông này đều là cựu chiến binh ở Việt Nam đã cố gắng làm lợi cho Cộng Sản Việt Nam mà chẳng đòi hỏi được gì cho Hoa Kỳ cả. Các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn mù tịt không hiểu gì về bản chất thực sự của chế độ. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ quá ngây thơ, và hạ mình nhượng bộ cho Hà Nội nhiều đặc lợi về mậu dịch và kinh tế với hy vọng sẽ phát huy được sự cởi mở về chính trị. Nhưng cố gắng này trở thành vô ích.
Mặc dù nhóm phát triển kinh tế của Việt Nam đã chọn đường lối phát triển theo “mô hình Trung Quốc.” từ lâu. Họ vứt bỏ đường lối hoạch định từ trung ương kiểu Nga Xô, nhưng sự dốt nát bất lực, và tình trạng tham nhũng bất trị đưa đến sự thiếu thốn về mọi mặt, lạm phát tăng cao, và nợ nần chồng chất. Trong lúc đó, với đầu óc kinh doanh cứng cỏi của người Việt, và lòng hiếu học sẵn có trong truyền thống, khối dân số trẻ trung, gần 90 triệu người ở Việt Nam đã phát triển tổng sản lượng quốc gia tăng lên rất nhiều. Lòng hiếu học của người Việt được tìm thấy qua những tiếng vang về sự thành công của nhiều cộng đồng di dân gốcViệt rải rác trên khắp nước Mỹ.
Điều trớ trêu ở chỗ là số tiền của người Việt di cư sang Mỹ gởi về giúp cho thân nhân kém may mắn ở trong nước đã trở thành nguồn yểm trợ kinh tế mạnh nhất cho chế độ bạo ngược này, chẳng hạn như năm 2008, người Việt di cư gởi về $8 tỉ đô la. Con số đó còn cao hơn cả con số $5 tỉ đô la tiền viện trợ hàng năm qua các tổ chức đa phương hay những chương trình viện trợ song phương cho Việt Nam. Tổng số tiền kiều hối đóng góp khoảng 5% cho Tổng Sản Lượng QuốcGia –GDP, cộng thêm với số tiền của nửa triệu công nhân đi làm lao động nước ngoài gởi về, và một khoản tiền khác do 400,000 du khách gốc Việt đem về hàng năm. Nguồn tư bản do người Việt sống tại Mỹ thường được gởi qua hệ thống chợ đen, giúp các tiểu thương biến thành phố Hồ Chí Minh- Saigon ngày trước- trở thành đầu tầu kéo vực dậy nền kinh tế, đó cũng là một con bò sữa vắt ra đô la cho bọn chính quyền tham nhũng ở Hà Nội bòn rút. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, với nguồn tư bản đầu tư đăng nhập lên đến $1 tỉ đô la. Còn phải kể ra nhiều dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, nếu họ không bị rơi vào mạng lưới tham nhũng, hối lộ của các tay đầu sỏ ở chính quyền trung ương tại Hà Nội, cũng như những tay tỉnh ủy ở điạ phương.
Nỗ lực tìm cách giảm ảnh hưởng xấu của tình trạng khan hiếm tín dụng, và suy thoái kinh tế, các nhà làm kế hoạch cộng sản tung thêm vào thị trường tiền tệ hơn 1 tỉ đô la trong năm 2009 - khoảng hơn 1 % Tổng Sản Lượng Quốc Gia. Nhưng kết quả là tuy tình trạng cấp tín dụng có được mở rộng thêm khoảng 40%, nhưng giá đồng đô la lại tăng vọt, mặc dù chính phủ đã can thiệp bằng hai lần định giá lại tiền tệ.
Vì trị giá đồng đô la tăng, các nhà xuất cảng gặp khó khăn trong việc tìm đô la để tài trợ khoản nhập cảng nguyên vật liệu và yếu tố thành phẩm, trong lúc phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc, được chính phủ trợ cấp rất nhiều. Và cứ như thế, dự trữ bằng ngoại tệ vơi đi rất nhanh. Giới kinh doanh lo ngại sẽ phải đối đầu với tình trạng lạm phát khá nặng, nặng hơn cả kỳ lạm phát xảy ra vào năm 2008.
Vất vả tranh đấu với cuộc sống hàng ngày, giới trẻ Việt Nam ngày nay, nhất là những thành phần không có việc làm, coi chuyện chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ là chuyện đã đi vào trong qúa khứ xa xưa, họ chẳng thèm bàn tới chuyện “Việt Nam”, như những câu chuyện vẫn còn ám ảnh ở Hoa Kỳ. Ví dụ ba cái phim về chiến tranh Việt Nam của điện ảnh Hollywood, tuy vẫn còn hấp dẫn trong văn hoá bình dân Mỹ, song không còn lôi cuốn người xem xi nê ở Việt Nam.
Điều quan trọng hơn trong lúc này đối với người Việt là họ ngoảnh cổ nhìn sang nước láng giềng bên cạnh, Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của người Việt. Mặc dù sau cuộc chiến tranh ngắn, nhưng cay đắng, xảy ra vào năm 1979, trong đó, Hà Nội đánh sặc máu mũi Bắc Kinh, hai nước đã đạt được những thoả uớc về biên giới, nhưng giờ đây mối tranh chấp vẫn còn tiếp diễn về chủ quyền trên các hòn đảo trong Biển Nam Hải. Và số lượng hàng nhập khẩu rất lớn của Trung quốc được bí mật đưa vào Việt Nam khiến cho các ngành công nghiệp thô sơ của Việt Nam bị xoá sạch ở miền Bắc.
Các bài viết trên những Blog liên mạng ở hai bên liên tiếp đả kích nhau dựa trên tinh thần yêu nước xô vanh, xoay quanh những vấn đề cũ. Và hiện nay mọi người đang trông chờ sẽ có một biến cố mới, ngoạn mục để chấm dứt tình trạng khó chịu, làm buồn lòng cả đôi bên.
Nguyễn Minh Tâm dịch ngày 28/4/10
--------------------------------------------------------------------
SANDERS: Vietnam, in sadness but not in shame
By Sol Sanders
ANALYSIS/OPINION:
America's more than 1.5 million Vietnamese-Americans this week will mourn the 35th anniversary of the fall of Saigon and the Republic of [South] Vietnam.
Defying conventional wisdom, many will remember and honor the bravery and sacrifice of the Army of the Republic of Vietnam. They want recognition for the heroic struggle that South Vietnamese troops put up against overwhelming odds after the withdrawal of American forces and the cutoff of U.S. military aid. Fortunately, a new group of revisionist scholars is setting the record straight, even in the face of the long history of American media and academic malfeasance on the Vietnam disaster.
The mourners also will recall the enormous loss of life and suffering — "the bloodbath" which, again, conventional wisdom has tried to deny — that followed Saigon's fall. Thousands died in "the Vietnamese gulag," communist "re-education camps" where Prime Minister Pham Van Dong publicly admitted that more than 1 million people had been imprisoned. Few but the Vietnamese remember that in addition to the 255,000 boat people who reached the shelter of the miserable refugee camps, thousands drowned at sea, often refused entry by neighboring countries.
That is not in any way to minimize the enormous loss of life and the sacrifice of Americans in what was a noble if tragic struggle. But it is an effort to retell the whole story of "Vietnam" for fellow Americans, particularly younger generations who have grown up amid a vast media and pseudo-scholarly distortion of facts. The remembrance also glories in the thousands of young Vietnamese now serving with distinction in the U.S. armed forces.
Unfortunately, in Vietnam itself, the oppression continues unabated. The communist regime persecutes religious and ethnic minorities, and in its own ham-handed way, attempts to stamp out political dissent. An endlessly feuding politburo guides the one-party state — so enmeshed in petty personal rivalries and ideological confusion that it publicly arrested the Communist Party official newspaper editor after he wrote an anti-Chinese editorial. And, since 1995, when Sens. John McCain of Arizona and John Kerry of Massachusetts — both veterans of the war — pushed for U.S. diplomatic recognition without quid pro quos, official Washington has obfuscated the true nature of the regime. U.S. policy has naively and ignominiously sought favor with Hanoi through economic and trade concessions in a fruitless effort to promote political liberalization.
Although Vietnam's economic team long ago adopted "the Chinese model," tattered Soviet-style central planning, incompetence and unbridled corruption have led to shortages, inflation and rising debt. Nevertheless, the indomitable Vietnamese entrepreneur, with his traditional thirst for education that finds an echo in the success of America's Vietnamese immigrant communities, has produced a growing gross national product for a youthful population nearing 90 million.
Ironically, remittances from the American emigres to unfortunate relatives left behind has been the most powerful economic prop for the regime, totaling as much as $8 billion in 2008. That compares with $5 billion annually in aid from the multilateral agencies and bilateral aid programs. These remittances contribute 5 percent of the GDP, adding to the money sent home by a half-million workers abroad and spending by another 400,000 ethnic Vietnamese tourists annually. Capital from the American emigres, often arriving via the black market, funds small entrepreneurs who make Greater Ho Chi Minh City-Saigon the country's overwhelming economic hub, the cash cow for Hanoi's kleptocrats. The U.S. remains Vietnam's largest official investor as well, with some $1 billion in registered capital. More foreign investment would come were it not for the tangle of kickbacks and intrigues between the central Hanoi government and regional party bosses.
Trying to counteract the effects of the worldwide credit crunch and recession, the communist planners in 2009 threw more than $1 billion — over 1 percent of GDP — at the currency. But while credit expanded by nearly 40 percent, the price of dollars soared despite two massive devaluations.
Exporters, struggling with the high-priced dollar, have difficulty financing dollar imports of raw materials and components in the battle against their heavily subsidized Chinese competitors. And foreign exchange outflows are draining reserves. The business community is bracing for another round of inflation, probably even greater than the crisis year of 2008.
The struggles of daily life, especially among the unemployed youths for whom both the French and American wars are a distant past, ignore the continued preoccupation with "Vietnam" in the United States. Hollywood's Vietnam War movies, for example, despite the widespread appeal of American popular culture, have elicited little interest.
Much more important now, the Vietnamese look over their shoulder at their neighbor and traditional enemy, China. Despite border agreements following the short but bitter war in 1979 in which Hanoi bloodied Beijing's nose, disputes continue over islands in the South China Sea. And a flood of clandestine Chinese imports have wiped out many of Vietnam's cottage industries in the north.
Bloggers on both sides keep up a steady chauvinist debate over old issues. And everyone waits for some new and spectacular development that will end the current malaise.
• Sol Sanders, veteran foreign correspondent and analyst, writes weekly on the convergence of international politics, business and economics. He can be reached at solsanders@cox.net Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. .
>> Xem Tiếp!
Thursday, April 29, 2010
Sunday, April 11, 2010
Một lần chào cuối cùng của đời quân ngũ
Trương Quang Chung
Sau 30.4.1975, người Việt tản mát trên khắp thế giới để tỵ nạn cộng sản. Trên Sách Vở, Báo Chí, Hồi Ký, Bút Ký, trên Ðài Truyền Thanh, Truyền Hình, trong các Ðại Nhạc Hội, những lúc Hội Họp các Ðoàn Thể chính trị hay các Tổ Chức khác, trong lúc ngồi nói chuyện quá khứ với nhau, đôi lúc cũng nhắc đến cái chết của những vị Tướng lãnh hay các Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cái chết đó phải được vinh danh một cách trang trọng xứng đáng, phải được ghi vào Lịch Sử để con cháu chúng ta sau này biết đến sự tuẫn tiết của cha anh họ.
Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con ngày 29.3.1975 tại Ðà Nẵng.
***
Tám giờ sáng ngày 28.3.1975, Tiểu Ðoàn tôi được lệnh rút về tuyến ‘’vàng’’ phòng thủ, giữ phía Tây Nam của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ Pháo Ðội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là Trục Lộ 14C từ Quận Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức thuộc Tỉnh Quảng Nam. Tiểu Ðoàn chịu trách nhiệm từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km). Tiểu Ðoàn di chuyển đến địa điểm lúc 10 giờ sáng, đã thấy vài khẩu đại bác 105 ly đã có sẵn ở các ruộng khô cách Tỉnh Lộ 14C khoảng 50 mét.
Sau khi liên lạc với vị Pháo Ðội Trưởng để bàn hoạch phương thức bảo vệ Pháo Ðội, tôi ra lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ định vị trí cho từng Ðại Ðội. Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn ở gần Pháo Ðội. Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, vị Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng báo cho tôi biết là họ được lệnh rút lui sau. Tôi không thắc mắc vì Pháo Binh luôn luôn ở sau để yểm trợ. Tuy nhiên, tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 của tôi gọi về Tiểu Khu hỏi xem chúng tôi có theo họ để bảo vệ súng không?
Hai giờ 30 chiều hôm đó Sĩ Quan Ban 3 của tôi báo cho tôi biết là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã thông báo là dời về Non Nước.
Lúc này, tôi có phần bi quan vì theo dõi tin tức qua máy trên các tầng số của các Ðơn Vị ở Vùng I mà chúng tôi có trong đặc lệnh truyền tin.
Bốn giờ chiều, tôi hoàn toàn không liên lạc được với Liên Ðoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành Chỉ Huy mà Tiểu Ðoàn tôi trực thuộc. Tiểu khu cũng biệt vô âm tín.
Tôi gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Ðoàn I cũng như của Sư Ðoàn 3, họ quá bận rộn với nhiều Ðơn Vị nên khó chen vào được.
Tôi mời các Ðại Ðội Trưởng và Sĩ Quan Tham Mưu đến cho biết tình hình và bàn kế hoạch. Bây giờ tôi không còn ai Chỉ Huy nữa nên tôi quyết định rút Tiểu Ðoàn về Hội An để vào Tiểu Khu xem sự việc đồng thời đó là con đường tương đối an toàn và gần nhất để ra Ðà Nẵng.
Ðơn Vị ra Quốc Lộ 1 thì dân, lính họ chạy về Ðà Nẵng quá sức tưởng tượng. Họ đang chạy giặc. Tình hình quá bi đát, một thoáng suy nghĩ trong đầu, tôi ra lệnh tất cả dừng lại ở trong Làng cách Quốc Lộ 100 mét, chờ lệnh tôi vì tôi sợ Lính ra đây thấy cảnh đó thì bỏ Ðơn Vị về lo cho gia đình.
Tôi tiến sát Quốc Lộ 1 để xem tình hình thì gặp Trung Tá Nguyễn Tối Lạc, Quận Trưởng Ðức Dục. Ông ta cho biết tất cả các Chi Khu của Quảng Nam đều bỏ cả rồi, Tiểu Khu thì về Ðà Nẵng không liên lạc được. Ông ta còn cho biết thêm là Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 vừa cho lệnh ông là trực thuộc Ðại Tá Vũ Ngọc Hướng, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 2 thuộc Sư Ðoàn 3.
Ðại Tá Hướng chỉ huy luôn các Tiểu Ðoàn của Tiểu Khu Quảng Nam nữa. Trung Tá Lạc chỉ còn một người mang máy truyền tin, một người Lính bảo vệ thôi. Tôi đang đứng với Trung Tá Lạc thì một chiếc chiến xa M-48 từ trong đi ra thấy có Ðại Tá Hướng ngồi trên pháo tháp.
Ông ta thấy tôi liền cho xe dừng lại. Tôi là thuộc quyền của ông lúc ông ta còn là Tiểu Khu Phó Quảng Nam và hỏi tôi:
- Tiểu Ðoàn của mày đâu mà mày đứng đây?
Tôi trả lời:
- Tiểu Ðoàn tôi còn nằm trong Làng này, Ðại Tá.
Tay tôi chỉ vào trong Làng gần đó.
- Có còn đủ không?
- Còn nguyên, chưa đụng trận nào lớn cả, mà chỉ gặp du kích thôi. Bảo đảm Ðại Tá, chắc Ðại Tá biết Tiểu Ðoàn này rồi mà.
- Tao hiểu, mày đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Hinh chưa?
- Tôi chưa nhận lệnh trực tiếp của Thiếu Tướng nhưng đã nghe Trung Tá Lạc nói rồi.
- Tốt, bây giờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu không còn ai nữa, mày trực thuộc Trung Ðoàn tao, mày có tầng số của tao chưa?
- Có đầy đủ ở đặc lệnh truyền tin rồi Ðại Tá. Bây giờ Ðại Tá cho lệnh thế nào?
- Theo lệnh Thiếu Tướng, mày cho Tiểu Ðoàn về Hội An phòng thủ với Trung Ðoàn. Ðến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để nhận lệnh chi tiết.
Tôi từ giã Ðại Tá Hướng trở lui Tiểu Ðoàn trình bày cuộc nói chuyện và lệnh của Ðại Tá Hướng cũng như Trung Tá Lạc cho các Sĩ Quan nghe. Sau một hồi thảo luận, cuối cùng tôi nói: Bây giờ chúng ta về Hội An như ý định của chúng ta đã nói. Trên vấn đề quân sự, chúng ta đặt dưới quyền của Ðại Tá Hướng,nếu hữu sự, chúng ta có Lực lượng quân sự cùng chiến đấu. Về đó tùy tình hình ta xử trí sau.
Tại Hội An chúng ta có các điểm lợi sau:
- Về địa thế chúng ta đã rõ như trong vòng bàn tay.
- Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung Tâm Tiếp Vận Quảng Nam của Tiểu Khu, chúng ta xử dụng nếu chiến đấu nhiều ngày.
- Nếu, có Lính chết hay Bị Thương thì có Bệnh Viện Hội An có phương tiện cấp cứu, có Bác sĩ Trung Ðoàn 2 và Y tá.
Liên Tỉnh lộ 13C từ Ðà Nẵng đi Hội An tương đối an toàn để chúng ta về Ðà Nẵng.
Tôi đã trình bày những điểm lợi hại cho các Sĩ Quan rõ,tôi nói tiếp:
-Nếu phải bỏ Ðà Nẵng như ở Huế và Vùng II thì tôi sẽ vào trình diện Quân Ðoàn để được giúp đỡ vì Tiểu Ðoàn mình còn nguyên chưa bị tổn thất thì thế nào Quân Ðoàn cũng lo cho mình vào Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Nếu tận cùng mình dùng quân số đông để áp đảo Hải Quân, yêu cầu được chở vào Nam chiến đấu.
Bây giờ đã 6 giờ chiều, mặc dù còn ánh nắng mặt trời, dân chúng cũng như Binh Sĩ chạy về Ðà Nẵng quá nhiều nên di chuyển Ðơn Vị lớn như thế rất khó khăn, dễ bị thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Ðại Ðội Trưởng, Trung Ðội Trưởng phải bám sát Binh Sĩ của mình đừng cho thất lạc. Nếu thất lạc, họ phải đến điểm tập trung là Ty Công Chánh Hội An. Ðó là điểm tập trung của Tiểu Ðoàn, đừng vào Tiểu Khu. Tôi căn dặn thật kỹ các Ðại Ðội phải ban hành lệnh đếm từng người Lính để họ nắm rõ điểm tập họp.
Sáu giờ 30, Tiểu Ðoàn bắt đầu hướng về Hội An. Lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh Tiểu Khu Quảng Ngãi, Quảng Tín kéo về như kiến cỏ. Họ không còn người Chỉ Huy nên hoàn toàn vô trật tự, vô kỷ luật, chỉ cần một hành động vô ý thức làm chạm tự ái, họ có thể bắn mình một cách dễ dàng.
Tôi đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung, hai Ðại Ðội đầu đã có mặt. Tôi ra lệnh phòng thủ và đợi Tiểu Ðoàn đến cho đầy đủ. Tôi vào Tiểu Khu để gặp Ðại Tá Hướng nhận lệnh.
Mười hai giờ, Tiểu Ðoàn đã đến đầy đủ. Ðại Úy Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn, cho tôi biết quân số lúc đó là 470 người. Các Sĩ Quan có đủ, có 20 thường dân là thân nhân của các Quân Nhân của Tiểu Ðoàn theo họ (họ hy vọng nếu có vào Sài Gòn thì họ cùng Tiểu Ðoàn vào Nam được dễ dàng hơn) vì lúc ở Ðiện Bàn, các gia đình này ở đó nên họ biết có Tiểu Ðoàn về nên đem theo luôn.
Có 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác thuộc Tiểu Khu Quảng Nam đã thất lạc Ðơn Vị nay muốn theo chúng tôi. Tôi nói với 50 Quân Nhân này, tôi chấp thuận cho họ ở với Tiểu Ðoàn với điều kiện phải tuyệt đối tuân hành lệnh của các Sĩ Quan Tiểu Ðoàn, nếu bất tuân, tôi ra lệnh bắn bỏ, nhất là lúc đụng trận. Tôi sẽ cho họ về Ðơn Vị gốc khi tôi gặp Ðơn Vị đó. Tất cả họ đồng ý và tôi phân chia cho các Ðại Ðội tác chiến ngay.
Riêng 20 thường dân (trong số này, tôi đã biết họ vì trước đây tôi có đến nhà họ lúc thuận tiện), Tôi ra lệnh cho Trung Sĩ I Thoảng chịu trách nhiệm vì Trung Sĩ I Thoảng là Hạ Sĩ Quan Ban 5 của Tiểu Ðoàn (Trung Úy Trưởng Ban 5 vắng) đồng thời tôi giới thiệu Trung Sĩ I Thoảng cho họ biết và nói: ‘’Bà con là thân nhân của Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn tôi, tôi có nhiệm vụ bảo vệ bà con như bảo vệ Lính tôi vậy. Nếu đụng trận bà con nghe lệnh của Trung Sĩ I Thoảng để được an toàn, đừng chạy lộn xộn mà chết, Tiểu Ðoàn đến đâu, tôi đem bà con theo đó’’. Họ hiểu ý tôi nên rất hoan hỉ.
Thành Phố Hội An bây giờ trống vắng, 99% đều bỏ ra Ðà Nẵng lánh nạn. Tiểu Ðoàn rời Ty Công Chánh Quảng Nam để đến vị trí phòng thủ theo lệnh Ðại Tá Hướng. Ðó là hướng Bắc Hội An trên đường ra Ðà Nẵng. Trước khi đi, tôi còn để lại một Tiểu Ðội, một máy truyền tin do một Trung Sĩ của Ban 2 Chỉ Huy để đón nhận những người đến muộn.
Tại vị trí phòng thủ mới, tôi quá mỏi mệt, tinh thần căng thẳng. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì Hạ Sĩ I Minh bưng đến một tô cháo và một ly cà phê sữa đang nóng và nói:
-Mấy ngày nay Thiếu Tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước không, lo suy nghĩ nhiều, em thấy Thiếu Tá ốm đó nghe. Thiếu Tá ăn tô cháo hầm bồ câu và uống ly cà phê để có sức đánh giặc chứ. Tôi đang lo lắng, định bảo dẹp đi, nhưng thấy thuộc cấp của mình thương mình, lo cho mình như thế nên không đành và nói:
- Mấy ông kia ăn chưa? Bồ câu đâu mày có?
- Thưa Thiếu Tá, lúc nãy ở Ty Công Chánh có chuồng bồ câu có lẽ của ông Trưởng Ty đã bỏ đi rồi, nên em bắt 4 con, em biết Ðại Bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có khỏe mới giết được việt cộng chứ Ðại Bàng.
- Thôi được, để đó, đừng mắc võng nữa nghe. Từ sáng đến giờ, tôi chỉ uống nước không ăn gì ngoài một tô mì gói có đập vào hai hột gà cũng do Hạ Sĩ I Minh làm mà thôi. Cảm thấy đói, hớp mấy miếng cà phê, ăn được gần nửa tô cháo thì nghe tiếng trực thăng, tôi nhìn ra thì thấy từ hướng Quân Ðoàn I có hai chiếc máy bay bay vào khá cao. Tôi bảo Trung Úy Bình, Sĩ Quan Truyền Tin mở máy qua tần số Quân Ðoàn liên lạc xem sao. Không liên lạc được mặc dù Bình đã có tất cả đặc lệnh truyền tin trong tay, đã liên lạc nhiều tần số và nhiều giới chức có thể đi bằng máy bay nhưng vô hiệu. Tôi biết chắc đó là máy bay Quân Ðoàn, nhưng không biết giới chức nào mà thôi. Lúc này, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 gọi các Ðại Ðội Trưởng về họp đồng thời thu hết Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh trở về Tiểu Ðoàn. Tôi còn ra lệnh Ðại Úy Hà Thúc Thuyên đi với một máy, vài Lính bảo vệ đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu xem Ðại Tá Hướng thế nào mà không liên lạc được.
Bây giờ là 2 giờ sáng ngày 29.3.1975. Ðại Úy Thuyên báo Trung Ðoàn 2 đã âm thầm ra hướng biển để về Ðà Nẵng. Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh đã đến Tiểu Ðoàn mang theo 9 người Lính đến muộn. Tôi cho về lại Ðại Ðội của họ cả. Như thế giờ này Tiểu Ðoàn có 479 Quân Nhân tham chiến chưa kể 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác đi theo. Sau một hồi bàn thảo của Sĩ Quan Tham Mưu và các Ðại Ðội Trưởng, tất cả quyết định rút về Ðà Nẵng, vào trình diện Quân Ðoàn.
Tôi hoàn toàn đồng ý và trình bày:
-Bây giờ còn sớm, chưa tới 3 giờ, chúng ta đến Chùa Non Nước sẽ gặp Ðơn Vị phòng thủ Quân Ðoàn ở đó trời chưa sáng, họ không nhận diện được ta có thể ngộ nhận và bắn lầm. Tôi quyết định 4 giờ sáng chúng ta xuất phát theo đội hình Ðại Ðội 1 đi dẫn đầu, Ðại Ðội 3 bên trái, Ðại Ðội 4 bên phải, Ðại Úy Thuyên Tiểu Ðoàn Phó đi với Ðại Ðội này vì có Trung Ðoàn 2 đi ra biển, nếu gặp tiện việc liên lạc hàng ngang tránh ngộ nhận. Ðại Ðội 2 đi sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn đi giữa, gia đình đi sau Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn. Trên đường đi nếu chạm địch, chúng ta phải yểm trợ nhau đưa nhau về Ðà Nẵng. Tất cả, nếu không ai có ý kiến gì khác thì về Ðơn Vị chuẩn bị lên đường khi có lệnh.
Ðúng 4 giờ sáng ngày 29.3.1975, Tiểu Ðoàn bắt đầu di chuyển thứ tự theo lệnh như đã phân nhiệm. Trên đường đi, chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chỉ gặp vài du kích bắn lẻ tẻ,vô sự, các Ðại Ðội phản ứng nhưng vẫn tiến quân. Gần 9 giờ sáng, Ðại Ðội đầu do Trung Úy Thành Chỉ Huy báo cáo đã đến Non Nước, gặp Ðơn Vị bạn, đã nhận diện và nói chuyện vời nhau. Trung Úy Thành nói chuyện đã gặp một Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang ngồi trên chiến xa nói là họ được lệnh không cho một Quân Nhân nào vào Ðà Nẵng mà mang súng, muốn vào phải bỏ súng ở đây. Tôi nghe cũng ngạc nhiên. Lính mà không cho mang súng thì đánh giặc bằng gì, ôm mà cắn hả? Lệnh gì kỳ cục vậy.
Tôi nói cho Trung Úy Thành ra lệnh cho Binh Sĩ đứng tại chỗ, cấm phản ứng để tôi lên tiếp xúc. Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý là các Ðại Ðội thu hẹp gần Tiểu Ðoàn, bố trí tại chỗ chờ lệnh và nói Ðại Úy Thuyên đến gặp tôi. Trên con đường đến gặp Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tôi suy nghĩ: Tình hình an ninh Ðà Nẵng rất xấu, đã có việt cộng cải trang thành lính xâm nhập rồi, nên mới có lệnh đó.
Tôi gặp vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và trình bày sự việc để xin được vào Ðà Nẵng. Ông ta dứt khoát và bảo đó là lệnh, tôi không thể sai được. Tôi cũng biết lệnh của Quân Ðội, tôi nói tình lý cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và gần như năng nỉ. Ông ta mềm lòng và nói để hỏi lại cấp trên.
Tôi tìm hiểu Thiếu Tá Ðịnh là cấp trên của ông ta vì Thiếu Tá Ðịnh học chung một Khóa Bộ Binh cao cấp với tôi năm 1973 ngủ chung một phòng, cùng người Huế, nên chúng tôi cũng thân nhau. Tôi cũng nói cho ông ta biết là tôi cũng là bạn thân với Thiếu Tá Ðịnh, Tiểu Ðoàn Trưởng Thủy Quân Lục Chiến, vị Ðại Úy này xác nhận là Thiếu Tá Ðịnh là Tiểu Ðoàn Trưởng của ông ta. Ông ta nói chuyện với Thiếu Tá Ðịnh sau đó trao máy cho tôi để nói chuyện. Thiếu Tá Ðịnh cho tôi biết Quân Ðoàn đã đi hết, đã bỏ ngõ, Thủy Quân Lục Chiến cũng đang tự tìm cách về Sài Gòn chưa biết tính sao đây. Thế là hết! Tôi trả máy cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến.
Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý gọi tất cả Sĩ Quan đến gặp tôi. Bây giờ là 9 giờ 30 sáng ngày 29.3.1975 tại Chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến cũng báo cho tôi biết là tôi được tự do vào Ðà Nẵng. Tôi chỉ nói cám ơn. Chiến xa nổ máy quay đầu chạy lui về Ðà Nẵng có tùng thiết Thủy Quân Lục Chiến theo. Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến cũng cho tôi biết không còn phương tiện vào Sài Gòn nữa, chính Ðơn Vị ông ta cũng phải tự lo liệu lấy. Không ai Chỉ Huy nữa. Hải Quân ở Tiên Sa cũng nhổ neo hết rồi.
Tất cả Sĩ Quan có mặt. Tôi trình bày tình hình Quân Ðoàn, Hải Quân do Thiếu Tá Ðịnh cho biết chính ông ta cũng không biết xử trí thế nào. Tôi nói:
- Tôi đã cùng Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn chiến đấu bên nhau bấy lâu nay, nhất là sau Tết cho đến bây giờ, tình hình chiến sự sôi động, gian lao khổ cực cùng anh em. Tôi đã đoán được tình hình, cố gắng đưa Tiểu Ðoàn về đây để được cùng nhau vào Sài Gòn tiếp tục chiến đấu, nhưng bây giờ sự việc xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta, tôi rất đau khổ về sự việc này.
Tôi cũng kể về sự tiếp xúc của tôi và Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến, sự suy luận của tôi, sự hiểu biết về tình hình của tôi cho tất cả nghe và nói tiếp:
- Không nên tập trung cả Ðại Ðội, sợ bị tấn công bất thường, chỉ từng Trung Ðội giải thích cho họ hiểu, thông cảm tìm cách vào Sài Gòn hoặc về gia đình tùy ý. Quyền Chỉ Huy bây giờ tùy nghi các anh lo liệu. Nếu ai về nhà thì vũ khí nên phá hủy đừng để lọt vào tay việt cộng. Các bạn tự do thi hành theo ý mình, điều cần nhất là phải an ủi, giải thích cho Lính hiểu tâm trạng của chúng ta bây giờ.
Có nhiều người lưỡng lự chưa muốn đi. Lúc này tôi như cái xác không hồn, ngồi xuống đất, dựa vào cổng trụ cửa ngõ của một nhà bên đường xem phản ứng của Quân Nhân các cấp của Tiểu Ðoàn như thế nào. Các Sĩ Quan đã đến chia xẻ sự đau khổ của tôi, mỗi người một ý.
Mười giờ 30 sáng ngày 29.3.1975. Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung Ðội Tình Báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân.
Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng đến đứng trước mặt tôi nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồi nói:
- Chắc em không vào Sài Gòn đâu Thiếu Tá. Cả Quân Ðoàn không một trận đánh nào mà đã bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi. Em chúc Thiếu Tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.
Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã,tôi nói:
- Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa Ðơn Vị về tới đây để cùng vào Nam song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay tao rồi.
Vợ Trung Sĩ I Thoảng và 2 con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi cùng đi với Tiểu Ðoàn từ hôm qua. Chị ta bước tới trước mặt tôi và nói:
- Em chúc Thiếu Tá lên đường bình an vào cho được Sài Gòn nghe Thiếu Tá, chứ việt cộng đến cỡ Thiếu Tá nó giết chứ không tha đâu.
Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng bên mẹ, có lẽ phản ứng lịch sự đối với đàn bà chứ tôi đã có đến nhà chị ta mấy lần rồi, nên cũng thường thôi. Tôi nói:
- Tôi cũng không biết có đi được không, đến đâu hay đó, Thoảng thì chắc nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ mà là chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
- Cám ơn Thiếu Tá, chúc Thiếu Tá thượng lộ bình an. Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa.
Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:
-Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống chắc không can gì đâu. Anh ta đến chào Ðại Úy Hà Thúc Thuyên Tiểu Ðoàn Phó, Ðại Úy Lê Ngọc Nhựt Trưởng Ban 2 Tiểu Ðoàn và Ðại Úy Huỳnh Văn Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn rồi từ giã ra đi. Ðến lúc này chỉ còn những Sĩ Quan đó và khoảng 20 Lính của Trung Ðội Tình Báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Ðại Úy Thuyên đến nói:
-Thôi mình cứ về Ðà Nẵng rồi hãy tính. Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe một tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi phản ứng ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến.
Tôi nói:
-Minh, mày ra xem cái gì đó? Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút chạy lui,trả lời:
- Thiếu Tá ơi! Ông Trung Sĩ I Thoảng tự tử bằng lựu đạn với vợ con ông ta rồi.
Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên tôi bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gởi trối trăn của thuộc cấp sắp chết mặc dầu tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ nhưng tôi tự kềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảnh của tôi. Thế mà hôm nay không hiểu sao tôi lại bật khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần khóc cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi hỏi:
- Nó chết ở đâu.
- Ông chết ở nhà kia.
Theo tay chỉ của Minh thì sau căn nhà tôi đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người Lính bảo vệ tôi cũng đi theo. Căn nhà tôn nhỏ xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi hài không toàn vẹn, một xách áo quần, mền còn để lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, thịt tung tóe dính cả vào tường. Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các Binh Sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường.
Bây giờ là 11 giờ ngày 29.3.1975. Một Trung Sĩ I cấp bậc quá nhỏ so với tôi, một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng có lúc gọi bằng ‘’thằng’’, một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi như thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la đôi khi còn nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi là Ông, Ông Thoảng với lòng tôn kính vì đây là một Vị Anh Hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với cộng sản. Hôm nay tôi viết để vinh danh một Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho con cháu sau này biết đến. Xin nghiêng mình tôn vinh một Vị Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hai giờ chiều ngày 29.3.1975, việt cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Ðà Nẵng.
Nguồn: http://batkhuat.net/tl-cuoidoi-quanngu.htm
>> Xem Tiếp!
Sau 30.4.1975, người Việt tản mát trên khắp thế giới để tỵ nạn cộng sản. Trên Sách Vở, Báo Chí, Hồi Ký, Bút Ký, trên Ðài Truyền Thanh, Truyền Hình, trong các Ðại Nhạc Hội, những lúc Hội Họp các Ðoàn Thể chính trị hay các Tổ Chức khác, trong lúc ngồi nói chuyện quá khứ với nhau, đôi lúc cũng nhắc đến cái chết của những vị Tướng lãnh hay các Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cái chết đó phải được vinh danh một cách trang trọng xứng đáng, phải được ghi vào Lịch Sử để con cháu chúng ta sau này biết đến sự tuẫn tiết của cha anh họ.
Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con ngày 29.3.1975 tại Ðà Nẵng.
***
Tám giờ sáng ngày 28.3.1975, Tiểu Ðoàn tôi được lệnh rút về tuyến ‘’vàng’’ phòng thủ, giữ phía Tây Nam của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ Pháo Ðội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là Trục Lộ 14C từ Quận Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức thuộc Tỉnh Quảng Nam. Tiểu Ðoàn chịu trách nhiệm từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km). Tiểu Ðoàn di chuyển đến địa điểm lúc 10 giờ sáng, đã thấy vài khẩu đại bác 105 ly đã có sẵn ở các ruộng khô cách Tỉnh Lộ 14C khoảng 50 mét.
Sau khi liên lạc với vị Pháo Ðội Trưởng để bàn hoạch phương thức bảo vệ Pháo Ðội, tôi ra lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ định vị trí cho từng Ðại Ðội. Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn ở gần Pháo Ðội. Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, vị Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng báo cho tôi biết là họ được lệnh rút lui sau. Tôi không thắc mắc vì Pháo Binh luôn luôn ở sau để yểm trợ. Tuy nhiên, tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 của tôi gọi về Tiểu Khu hỏi xem chúng tôi có theo họ để bảo vệ súng không?
Hai giờ 30 chiều hôm đó Sĩ Quan Ban 3 của tôi báo cho tôi biết là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã thông báo là dời về Non Nước.
Lúc này, tôi có phần bi quan vì theo dõi tin tức qua máy trên các tầng số của các Ðơn Vị ở Vùng I mà chúng tôi có trong đặc lệnh truyền tin.
Bốn giờ chiều, tôi hoàn toàn không liên lạc được với Liên Ðoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành Chỉ Huy mà Tiểu Ðoàn tôi trực thuộc. Tiểu khu cũng biệt vô âm tín.
Tôi gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Ðoàn I cũng như của Sư Ðoàn 3, họ quá bận rộn với nhiều Ðơn Vị nên khó chen vào được.
Tôi mời các Ðại Ðội Trưởng và Sĩ Quan Tham Mưu đến cho biết tình hình và bàn kế hoạch. Bây giờ tôi không còn ai Chỉ Huy nữa nên tôi quyết định rút Tiểu Ðoàn về Hội An để vào Tiểu Khu xem sự việc đồng thời đó là con đường tương đối an toàn và gần nhất để ra Ðà Nẵng.
Ðơn Vị ra Quốc Lộ 1 thì dân, lính họ chạy về Ðà Nẵng quá sức tưởng tượng. Họ đang chạy giặc. Tình hình quá bi đát, một thoáng suy nghĩ trong đầu, tôi ra lệnh tất cả dừng lại ở trong Làng cách Quốc Lộ 100 mét, chờ lệnh tôi vì tôi sợ Lính ra đây thấy cảnh đó thì bỏ Ðơn Vị về lo cho gia đình.
Tôi tiến sát Quốc Lộ 1 để xem tình hình thì gặp Trung Tá Nguyễn Tối Lạc, Quận Trưởng Ðức Dục. Ông ta cho biết tất cả các Chi Khu của Quảng Nam đều bỏ cả rồi, Tiểu Khu thì về Ðà Nẵng không liên lạc được. Ông ta còn cho biết thêm là Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 vừa cho lệnh ông là trực thuộc Ðại Tá Vũ Ngọc Hướng, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 2 thuộc Sư Ðoàn 3.
Ðại Tá Hướng chỉ huy luôn các Tiểu Ðoàn của Tiểu Khu Quảng Nam nữa. Trung Tá Lạc chỉ còn một người mang máy truyền tin, một người Lính bảo vệ thôi. Tôi đang đứng với Trung Tá Lạc thì một chiếc chiến xa M-48 từ trong đi ra thấy có Ðại Tá Hướng ngồi trên pháo tháp.
Ông ta thấy tôi liền cho xe dừng lại. Tôi là thuộc quyền của ông lúc ông ta còn là Tiểu Khu Phó Quảng Nam và hỏi tôi:
- Tiểu Ðoàn của mày đâu mà mày đứng đây?
Tôi trả lời:
- Tiểu Ðoàn tôi còn nằm trong Làng này, Ðại Tá.
Tay tôi chỉ vào trong Làng gần đó.
- Có còn đủ không?
- Còn nguyên, chưa đụng trận nào lớn cả, mà chỉ gặp du kích thôi. Bảo đảm Ðại Tá, chắc Ðại Tá biết Tiểu Ðoàn này rồi mà.
- Tao hiểu, mày đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Hinh chưa?
- Tôi chưa nhận lệnh trực tiếp của Thiếu Tướng nhưng đã nghe Trung Tá Lạc nói rồi.
- Tốt, bây giờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu không còn ai nữa, mày trực thuộc Trung Ðoàn tao, mày có tầng số của tao chưa?
- Có đầy đủ ở đặc lệnh truyền tin rồi Ðại Tá. Bây giờ Ðại Tá cho lệnh thế nào?
- Theo lệnh Thiếu Tướng, mày cho Tiểu Ðoàn về Hội An phòng thủ với Trung Ðoàn. Ðến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để nhận lệnh chi tiết.
Tôi từ giã Ðại Tá Hướng trở lui Tiểu Ðoàn trình bày cuộc nói chuyện và lệnh của Ðại Tá Hướng cũng như Trung Tá Lạc cho các Sĩ Quan nghe. Sau một hồi thảo luận, cuối cùng tôi nói: Bây giờ chúng ta về Hội An như ý định của chúng ta đã nói. Trên vấn đề quân sự, chúng ta đặt dưới quyền của Ðại Tá Hướng,nếu hữu sự, chúng ta có Lực lượng quân sự cùng chiến đấu. Về đó tùy tình hình ta xử trí sau.
Tại Hội An chúng ta có các điểm lợi sau:
- Về địa thế chúng ta đã rõ như trong vòng bàn tay.
- Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung Tâm Tiếp Vận Quảng Nam của Tiểu Khu, chúng ta xử dụng nếu chiến đấu nhiều ngày.
- Nếu, có Lính chết hay Bị Thương thì có Bệnh Viện Hội An có phương tiện cấp cứu, có Bác sĩ Trung Ðoàn 2 và Y tá.
Liên Tỉnh lộ 13C từ Ðà Nẵng đi Hội An tương đối an toàn để chúng ta về Ðà Nẵng.
Tôi đã trình bày những điểm lợi hại cho các Sĩ Quan rõ,tôi nói tiếp:
-Nếu phải bỏ Ðà Nẵng như ở Huế và Vùng II thì tôi sẽ vào trình diện Quân Ðoàn để được giúp đỡ vì Tiểu Ðoàn mình còn nguyên chưa bị tổn thất thì thế nào Quân Ðoàn cũng lo cho mình vào Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Nếu tận cùng mình dùng quân số đông để áp đảo Hải Quân, yêu cầu được chở vào Nam chiến đấu.
Bây giờ đã 6 giờ chiều, mặc dù còn ánh nắng mặt trời, dân chúng cũng như Binh Sĩ chạy về Ðà Nẵng quá nhiều nên di chuyển Ðơn Vị lớn như thế rất khó khăn, dễ bị thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Ðại Ðội Trưởng, Trung Ðội Trưởng phải bám sát Binh Sĩ của mình đừng cho thất lạc. Nếu thất lạc, họ phải đến điểm tập trung là Ty Công Chánh Hội An. Ðó là điểm tập trung của Tiểu Ðoàn, đừng vào Tiểu Khu. Tôi căn dặn thật kỹ các Ðại Ðội phải ban hành lệnh đếm từng người Lính để họ nắm rõ điểm tập họp.
Sáu giờ 30, Tiểu Ðoàn bắt đầu hướng về Hội An. Lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh Tiểu Khu Quảng Ngãi, Quảng Tín kéo về như kiến cỏ. Họ không còn người Chỉ Huy nên hoàn toàn vô trật tự, vô kỷ luật, chỉ cần một hành động vô ý thức làm chạm tự ái, họ có thể bắn mình một cách dễ dàng.
Tôi đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung, hai Ðại Ðội đầu đã có mặt. Tôi ra lệnh phòng thủ và đợi Tiểu Ðoàn đến cho đầy đủ. Tôi vào Tiểu Khu để gặp Ðại Tá Hướng nhận lệnh.
Mười hai giờ, Tiểu Ðoàn đã đến đầy đủ. Ðại Úy Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn, cho tôi biết quân số lúc đó là 470 người. Các Sĩ Quan có đủ, có 20 thường dân là thân nhân của các Quân Nhân của Tiểu Ðoàn theo họ (họ hy vọng nếu có vào Sài Gòn thì họ cùng Tiểu Ðoàn vào Nam được dễ dàng hơn) vì lúc ở Ðiện Bàn, các gia đình này ở đó nên họ biết có Tiểu Ðoàn về nên đem theo luôn.
Có 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác thuộc Tiểu Khu Quảng Nam đã thất lạc Ðơn Vị nay muốn theo chúng tôi. Tôi nói với 50 Quân Nhân này, tôi chấp thuận cho họ ở với Tiểu Ðoàn với điều kiện phải tuyệt đối tuân hành lệnh của các Sĩ Quan Tiểu Ðoàn, nếu bất tuân, tôi ra lệnh bắn bỏ, nhất là lúc đụng trận. Tôi sẽ cho họ về Ðơn Vị gốc khi tôi gặp Ðơn Vị đó. Tất cả họ đồng ý và tôi phân chia cho các Ðại Ðội tác chiến ngay.
Riêng 20 thường dân (trong số này, tôi đã biết họ vì trước đây tôi có đến nhà họ lúc thuận tiện), Tôi ra lệnh cho Trung Sĩ I Thoảng chịu trách nhiệm vì Trung Sĩ I Thoảng là Hạ Sĩ Quan Ban 5 của Tiểu Ðoàn (Trung Úy Trưởng Ban 5 vắng) đồng thời tôi giới thiệu Trung Sĩ I Thoảng cho họ biết và nói: ‘’Bà con là thân nhân của Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn tôi, tôi có nhiệm vụ bảo vệ bà con như bảo vệ Lính tôi vậy. Nếu đụng trận bà con nghe lệnh của Trung Sĩ I Thoảng để được an toàn, đừng chạy lộn xộn mà chết, Tiểu Ðoàn đến đâu, tôi đem bà con theo đó’’. Họ hiểu ý tôi nên rất hoan hỉ.
Thành Phố Hội An bây giờ trống vắng, 99% đều bỏ ra Ðà Nẵng lánh nạn. Tiểu Ðoàn rời Ty Công Chánh Quảng Nam để đến vị trí phòng thủ theo lệnh Ðại Tá Hướng. Ðó là hướng Bắc Hội An trên đường ra Ðà Nẵng. Trước khi đi, tôi còn để lại một Tiểu Ðội, một máy truyền tin do một Trung Sĩ của Ban 2 Chỉ Huy để đón nhận những người đến muộn.
Tại vị trí phòng thủ mới, tôi quá mỏi mệt, tinh thần căng thẳng. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì Hạ Sĩ I Minh bưng đến một tô cháo và một ly cà phê sữa đang nóng và nói:
-Mấy ngày nay Thiếu Tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước không, lo suy nghĩ nhiều, em thấy Thiếu Tá ốm đó nghe. Thiếu Tá ăn tô cháo hầm bồ câu và uống ly cà phê để có sức đánh giặc chứ. Tôi đang lo lắng, định bảo dẹp đi, nhưng thấy thuộc cấp của mình thương mình, lo cho mình như thế nên không đành và nói:
- Mấy ông kia ăn chưa? Bồ câu đâu mày có?
- Thưa Thiếu Tá, lúc nãy ở Ty Công Chánh có chuồng bồ câu có lẽ của ông Trưởng Ty đã bỏ đi rồi, nên em bắt 4 con, em biết Ðại Bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có khỏe mới giết được việt cộng chứ Ðại Bàng.
- Thôi được, để đó, đừng mắc võng nữa nghe. Từ sáng đến giờ, tôi chỉ uống nước không ăn gì ngoài một tô mì gói có đập vào hai hột gà cũng do Hạ Sĩ I Minh làm mà thôi. Cảm thấy đói, hớp mấy miếng cà phê, ăn được gần nửa tô cháo thì nghe tiếng trực thăng, tôi nhìn ra thì thấy từ hướng Quân Ðoàn I có hai chiếc máy bay bay vào khá cao. Tôi bảo Trung Úy Bình, Sĩ Quan Truyền Tin mở máy qua tần số Quân Ðoàn liên lạc xem sao. Không liên lạc được mặc dù Bình đã có tất cả đặc lệnh truyền tin trong tay, đã liên lạc nhiều tần số và nhiều giới chức có thể đi bằng máy bay nhưng vô hiệu. Tôi biết chắc đó là máy bay Quân Ðoàn, nhưng không biết giới chức nào mà thôi. Lúc này, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 gọi các Ðại Ðội Trưởng về họp đồng thời thu hết Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh trở về Tiểu Ðoàn. Tôi còn ra lệnh Ðại Úy Hà Thúc Thuyên đi với một máy, vài Lính bảo vệ đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu xem Ðại Tá Hướng thế nào mà không liên lạc được.
Bây giờ là 2 giờ sáng ngày 29.3.1975. Ðại Úy Thuyên báo Trung Ðoàn 2 đã âm thầm ra hướng biển để về Ðà Nẵng. Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh đã đến Tiểu Ðoàn mang theo 9 người Lính đến muộn. Tôi cho về lại Ðại Ðội của họ cả. Như thế giờ này Tiểu Ðoàn có 479 Quân Nhân tham chiến chưa kể 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác đi theo. Sau một hồi bàn thảo của Sĩ Quan Tham Mưu và các Ðại Ðội Trưởng, tất cả quyết định rút về Ðà Nẵng, vào trình diện Quân Ðoàn.
Tôi hoàn toàn đồng ý và trình bày:
-Bây giờ còn sớm, chưa tới 3 giờ, chúng ta đến Chùa Non Nước sẽ gặp Ðơn Vị phòng thủ Quân Ðoàn ở đó trời chưa sáng, họ không nhận diện được ta có thể ngộ nhận và bắn lầm. Tôi quyết định 4 giờ sáng chúng ta xuất phát theo đội hình Ðại Ðội 1 đi dẫn đầu, Ðại Ðội 3 bên trái, Ðại Ðội 4 bên phải, Ðại Úy Thuyên Tiểu Ðoàn Phó đi với Ðại Ðội này vì có Trung Ðoàn 2 đi ra biển, nếu gặp tiện việc liên lạc hàng ngang tránh ngộ nhận. Ðại Ðội 2 đi sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn đi giữa, gia đình đi sau Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn. Trên đường đi nếu chạm địch, chúng ta phải yểm trợ nhau đưa nhau về Ðà Nẵng. Tất cả, nếu không ai có ý kiến gì khác thì về Ðơn Vị chuẩn bị lên đường khi có lệnh.
Ðúng 4 giờ sáng ngày 29.3.1975, Tiểu Ðoàn bắt đầu di chuyển thứ tự theo lệnh như đã phân nhiệm. Trên đường đi, chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chỉ gặp vài du kích bắn lẻ tẻ,vô sự, các Ðại Ðội phản ứng nhưng vẫn tiến quân. Gần 9 giờ sáng, Ðại Ðội đầu do Trung Úy Thành Chỉ Huy báo cáo đã đến Non Nước, gặp Ðơn Vị bạn, đã nhận diện và nói chuyện vời nhau. Trung Úy Thành nói chuyện đã gặp một Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang ngồi trên chiến xa nói là họ được lệnh không cho một Quân Nhân nào vào Ðà Nẵng mà mang súng, muốn vào phải bỏ súng ở đây. Tôi nghe cũng ngạc nhiên. Lính mà không cho mang súng thì đánh giặc bằng gì, ôm mà cắn hả? Lệnh gì kỳ cục vậy.
Tôi nói cho Trung Úy Thành ra lệnh cho Binh Sĩ đứng tại chỗ, cấm phản ứng để tôi lên tiếp xúc. Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý là các Ðại Ðội thu hẹp gần Tiểu Ðoàn, bố trí tại chỗ chờ lệnh và nói Ðại Úy Thuyên đến gặp tôi. Trên con đường đến gặp Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tôi suy nghĩ: Tình hình an ninh Ðà Nẵng rất xấu, đã có việt cộng cải trang thành lính xâm nhập rồi, nên mới có lệnh đó.
Tôi gặp vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và trình bày sự việc để xin được vào Ðà Nẵng. Ông ta dứt khoát và bảo đó là lệnh, tôi không thể sai được. Tôi cũng biết lệnh của Quân Ðội, tôi nói tình lý cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và gần như năng nỉ. Ông ta mềm lòng và nói để hỏi lại cấp trên.
Tôi tìm hiểu Thiếu Tá Ðịnh là cấp trên của ông ta vì Thiếu Tá Ðịnh học chung một Khóa Bộ Binh cao cấp với tôi năm 1973 ngủ chung một phòng, cùng người Huế, nên chúng tôi cũng thân nhau. Tôi cũng nói cho ông ta biết là tôi cũng là bạn thân với Thiếu Tá Ðịnh, Tiểu Ðoàn Trưởng Thủy Quân Lục Chiến, vị Ðại Úy này xác nhận là Thiếu Tá Ðịnh là Tiểu Ðoàn Trưởng của ông ta. Ông ta nói chuyện với Thiếu Tá Ðịnh sau đó trao máy cho tôi để nói chuyện. Thiếu Tá Ðịnh cho tôi biết Quân Ðoàn đã đi hết, đã bỏ ngõ, Thủy Quân Lục Chiến cũng đang tự tìm cách về Sài Gòn chưa biết tính sao đây. Thế là hết! Tôi trả máy cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến.
Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý gọi tất cả Sĩ Quan đến gặp tôi. Bây giờ là 9 giờ 30 sáng ngày 29.3.1975 tại Chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến cũng báo cho tôi biết là tôi được tự do vào Ðà Nẵng. Tôi chỉ nói cám ơn. Chiến xa nổ máy quay đầu chạy lui về Ðà Nẵng có tùng thiết Thủy Quân Lục Chiến theo. Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến cũng cho tôi biết không còn phương tiện vào Sài Gòn nữa, chính Ðơn Vị ông ta cũng phải tự lo liệu lấy. Không ai Chỉ Huy nữa. Hải Quân ở Tiên Sa cũng nhổ neo hết rồi.
Tất cả Sĩ Quan có mặt. Tôi trình bày tình hình Quân Ðoàn, Hải Quân do Thiếu Tá Ðịnh cho biết chính ông ta cũng không biết xử trí thế nào. Tôi nói:
- Tôi đã cùng Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn chiến đấu bên nhau bấy lâu nay, nhất là sau Tết cho đến bây giờ, tình hình chiến sự sôi động, gian lao khổ cực cùng anh em. Tôi đã đoán được tình hình, cố gắng đưa Tiểu Ðoàn về đây để được cùng nhau vào Sài Gòn tiếp tục chiến đấu, nhưng bây giờ sự việc xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta, tôi rất đau khổ về sự việc này.
Tôi cũng kể về sự tiếp xúc của tôi và Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến, sự suy luận của tôi, sự hiểu biết về tình hình của tôi cho tất cả nghe và nói tiếp:
- Không nên tập trung cả Ðại Ðội, sợ bị tấn công bất thường, chỉ từng Trung Ðội giải thích cho họ hiểu, thông cảm tìm cách vào Sài Gòn hoặc về gia đình tùy ý. Quyền Chỉ Huy bây giờ tùy nghi các anh lo liệu. Nếu ai về nhà thì vũ khí nên phá hủy đừng để lọt vào tay việt cộng. Các bạn tự do thi hành theo ý mình, điều cần nhất là phải an ủi, giải thích cho Lính hiểu tâm trạng của chúng ta bây giờ.
Có nhiều người lưỡng lự chưa muốn đi. Lúc này tôi như cái xác không hồn, ngồi xuống đất, dựa vào cổng trụ cửa ngõ của một nhà bên đường xem phản ứng của Quân Nhân các cấp của Tiểu Ðoàn như thế nào. Các Sĩ Quan đã đến chia xẻ sự đau khổ của tôi, mỗi người một ý.
Mười giờ 30 sáng ngày 29.3.1975. Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung Ðội Tình Báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân.
Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng đến đứng trước mặt tôi nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồi nói:
- Chắc em không vào Sài Gòn đâu Thiếu Tá. Cả Quân Ðoàn không một trận đánh nào mà đã bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi. Em chúc Thiếu Tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.
Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã,tôi nói:
- Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa Ðơn Vị về tới đây để cùng vào Nam song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay tao rồi.
Vợ Trung Sĩ I Thoảng và 2 con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi cùng đi với Tiểu Ðoàn từ hôm qua. Chị ta bước tới trước mặt tôi và nói:
- Em chúc Thiếu Tá lên đường bình an vào cho được Sài Gòn nghe Thiếu Tá, chứ việt cộng đến cỡ Thiếu Tá nó giết chứ không tha đâu.
Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng bên mẹ, có lẽ phản ứng lịch sự đối với đàn bà chứ tôi đã có đến nhà chị ta mấy lần rồi, nên cũng thường thôi. Tôi nói:
- Tôi cũng không biết có đi được không, đến đâu hay đó, Thoảng thì chắc nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ mà là chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
- Cám ơn Thiếu Tá, chúc Thiếu Tá thượng lộ bình an. Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa.
Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:
-Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống chắc không can gì đâu. Anh ta đến chào Ðại Úy Hà Thúc Thuyên Tiểu Ðoàn Phó, Ðại Úy Lê Ngọc Nhựt Trưởng Ban 2 Tiểu Ðoàn và Ðại Úy Huỳnh Văn Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn rồi từ giã ra đi. Ðến lúc này chỉ còn những Sĩ Quan đó và khoảng 20 Lính của Trung Ðội Tình Báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Ðại Úy Thuyên đến nói:
-Thôi mình cứ về Ðà Nẵng rồi hãy tính. Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe một tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi phản ứng ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến.
Tôi nói:
-Minh, mày ra xem cái gì đó? Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút chạy lui,trả lời:
- Thiếu Tá ơi! Ông Trung Sĩ I Thoảng tự tử bằng lựu đạn với vợ con ông ta rồi.
Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên tôi bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gởi trối trăn của thuộc cấp sắp chết mặc dầu tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ nhưng tôi tự kềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảnh của tôi. Thế mà hôm nay không hiểu sao tôi lại bật khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần khóc cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi hỏi:
- Nó chết ở đâu.
- Ông chết ở nhà kia.
Theo tay chỉ của Minh thì sau căn nhà tôi đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người Lính bảo vệ tôi cũng đi theo. Căn nhà tôn nhỏ xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi hài không toàn vẹn, một xách áo quần, mền còn để lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, thịt tung tóe dính cả vào tường. Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các Binh Sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường.
Bây giờ là 11 giờ ngày 29.3.1975. Một Trung Sĩ I cấp bậc quá nhỏ so với tôi, một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng có lúc gọi bằng ‘’thằng’’, một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi như thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la đôi khi còn nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi là Ông, Ông Thoảng với lòng tôn kính vì đây là một Vị Anh Hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với cộng sản. Hôm nay tôi viết để vinh danh một Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho con cháu sau này biết đến. Xin nghiêng mình tôn vinh một Vị Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hai giờ chiều ngày 29.3.1975, việt cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Ðà Nẵng.
Nguồn: http://batkhuat.net/tl-cuoidoi-quanngu.htm
>> Xem Tiếp!
Monday, April 5, 2010
Hãy Chụp Giùm Tôi
Hãy Chụp Giùm Tôi
Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà "đổi mới",
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.
Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.
Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
Đừng khoe tôi những con phố "bưng biền",
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
x
x x
Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.
Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.
Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.
Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.
Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.
Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.
Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.
Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.
Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.
x
x x
Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.
Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.
Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!
Trần Văn Lương
Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010
>> Xem Tiếp!
Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà "đổi mới",
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.
Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.
Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
Đừng khoe tôi những con phố "bưng biền",
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
x
x x
Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.
Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.
Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.
Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.
Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.
Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.
Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.
Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.
Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.
x
x x
Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.
Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.
Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!
Trần Văn Lương
Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010
>> Xem Tiếp!
Tuesday, March 23, 2010
ỨNG CỬ VIÊN GẶP GỠ CỬ TRI KHU VỰC 7
Tuần qua vào tối thứ Năm 11-3-2010 đã có một buổi gặp gỡ giữa cử tri khu vực 7 và 2 ứng cử viên ra tranh chức Nghị viên trong cuộc bầu cử sơ bộ sẽ diễn ra vào tháng 6 này. Ông Rudy Rodriguez người Mỹ gốc Mễ và ông Minh Dương cùng bà nghị viên đương nhiệm Madison Nguyễn và ông Lê hữu Phú sẽ cùng tranh cử, nếu ai đạt được 50% +1 số phiếu bầu thì đắc cử, nếu không thì hai người cao phiếu nhất sẽ phải qua vòng 2 vào tháng 11 năm nay.
Trong buổi tối 11-3 chỉ có sự hiện diện của 2 ứng cử viên Rudy Rodriguez và Minh Dương mà thôi. Mục đích của buổi gặp gỡ này nhằm tạo cơ hội cho ứng cử viên gặp gỡ cử tri khu vực 7- mà ứng viên muốn đại diện họ trong Hội Đồng Thành Phố San Jose- để ứng viên có cơ hội trình bày cùng cử tri lập trường, đường lối và những phương cách giải quyết các vấn nạn mà khu vực 7 nói riêng cũng như toàn thành phố đang phải trực diên.
Dù đây là buổi đầu tiên do Liên đoàn Cử tri Người Việt tổ chức nhưng sự chuẩn bị khá chu đáo, chuyên nghiệp và diễn tiến trong bầu không khí ôn hòa, lịch sự tạo sự thoải mái cho tất cả mọi người có mặt.
Chủ tọa đoàn gồm bà Phạm mỹ Linh-Giám đốc Trung Tâm Á Mỹ Hạt Santa Clara, Nha sĩ Cao song Dũng, xướng ngôn viên Huỳnh Hớn và Ông Nguyễn Christophe, chuyên viên xã hội quận hạt Santa Clara.
Sau những nghi thức khai mạc thường lệ là phần ứng cử viên trả lời 8 câu hỏi do mỗi vị trong Chủ tọa đoàn tự chọn lựa trước và lần lượt đưa ra, đó là:
1- Sự hiểu biết của ứng viên về cộng đồng VN ở San Jose, về văn hóa, về quá trình di dân của họ và những quan tâm của cộng đồng này.
2- Liên quan đến một tai nạn thương tâm năm ngoái, ứng cử viên nếu đắc cử sẽ làm gì để giúp cư dân khu 7 được di chuyển an toàn hơn.
3- Trong tình hình kinh tế khó khăn tệ nạn tội phạm và băng đảng có thể gia tăng, ứng viên sẽ làm thế nào để tạo ra sự an toàn nơi trường học.
4- Nếu phải cân bằng ngân sách thành phố và vẫn bảo đảm các dịch vụ cần thiết, ứng viên sẽ làm gì để bảo đảm sự phân phối tài chánh nhằm phục vụ tương xứng cho 10% cư dân gốc Việt trong thành phố SJ.
5- Ứng viên có đề nghị gì để ngăn ngừa việc các cảnh sát viên SJ đã sử dụng bạo lực thái quá và không cần thiết đối với cư dân VN nói riêng và các cộng đồng thiểu số nói chung.
6- Trong khi nền kinh tế xuống dốc nhiều gia đình bị mất việc làm và bị ngân hàng tịch thu nhà, nếu đắc cử thì ứng viên sẽ làm gì để giúp giải quyết vấn nạn mất nhà này.
7- Với tỷ lệ thất nghiệp cao trong viễn tượng kinh tế khó khăn hiện nay, ứng viên sẽ có những chương trình gì có thể thực hiện được để giúp người dân có công ăn việc làm, không trở thành vô gia cư.
8- Hơn 30 năm qua, CĐ người Mỹ gốc Việt đã thành công và thăng tiến trong nhiều lãnh vực. Sự đóng góp của người Việt đã được thành phố ghi nhận, quý vị sẽ làm gì để giúp cho cộng đồng Việt Nam tại SJ đạt được những nguyện vọng của họ.
Hai ông Rodriguez và Dương đã thay phiên nhau trả lời từng câu hỏi với thời lượng tổng cộng 4 phút cho mỗi câu bằng song ngữ, ông Minh Dương lưu loát cả Việt lẫn Anh ngữ, ông Scott Phạm đã thông dịch một cách nhanh chóng và khá chính xác ý kiến của ông Rudy Rodriguez.
Hai vị đều đưa ra những ưu điểm cá nhân để chứng tỏ với cử tọa rằng mình xứng đáng và sẵn sàng thi hành nhiệm vụ của một nghị viên là công bộc của người dân, ông Rodriguez còn nhấn mạnh đôi lần rằng là nghị viên tức được nhân dân thuê mướn, nếu không làm tròn bổn phận người dân có quyền không mướn nữa. Ông Minh Dương đã tỏ ra quen thuộc với mong ước của người Việt là muốn có một Trung Tâm Sinh Hoạt cho CĐVN và một tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ.
Sau phần trình bày của 2 ứng cử viên là phần hỏi đáp giữ cử tọa và ứng viên.
Vì thời giờ hạn hẹp nên chỉ đủ cho 3 vị nêu câu hỏi là ông Đặng Cường thắc mắc việc vận động mở lại đại bổi thẩm đoàn cho vụ anh Daniel Phạm, ông Huỳnh Hớn nêu vấn đề nếu quý vị không giữ lời hứa hẹn khi tranh cử khiến cử tri không hài lòng thì quý vị có từ chức không hay phải bị bãi nhiệm .
Cả hai vị đều trả lời rằng mình sẽ không hứa hẹn bất cứ điều gì nếu không thể thực hiện được. Và người nêu thắc mắc cuối cùng là nha sĩ Hồ Vũ hỏi rằng nếu một trong hai người không được vào vòng chung kết (run off) thì có sẽ ủng hộ cho người kia hay không. Hai ứng cử viên đã cam kết sẽ ủng hộ lẫn nhau, những cái bắt tay và nụ cười thân tình của hai vị đã được cử tọa tán thưởng bằng những tràng pháo tay dòn dã.
Dù có người vẫn muốn đặt câu hỏi nữa nhưng đã 9:30 là giờ phải trả phòng cho thư viện nên buổi gặp gỡ phải chấm dứt.
Tuy số người tham dự không được đông đảo nhưng sự tổ chức chu đáo, chuyên nghiệp của LĐCT dù chỉ mới thành lập được một năm và chịu nhiều đánh phá, là một nỗ lực rất đáng khích lệ, đáng tán thưởng.
Hy vọng những lần tới, sẽ có cuộc tranh luận (debates) giữa các ứng cử viên về từng chương trình hành động của họ, để người dân có những nhận xét rõ ràng hơn, kỹ lưỡng hơn hầu quyết định lá phiếu của mình cho xứng đáng, để khỏi trải qua những ngày gian khổ, những buồn phiền uất ức gây ra bởi nghị viên đương nhiệm là bà Madison Nguyễn nữa.
>> Xem Tiếp!
Trong buổi tối 11-3 chỉ có sự hiện diện của 2 ứng cử viên Rudy Rodriguez và Minh Dương mà thôi. Mục đích của buổi gặp gỡ này nhằm tạo cơ hội cho ứng cử viên gặp gỡ cử tri khu vực 7- mà ứng viên muốn đại diện họ trong Hội Đồng Thành Phố San Jose- để ứng viên có cơ hội trình bày cùng cử tri lập trường, đường lối và những phương cách giải quyết các vấn nạn mà khu vực 7 nói riêng cũng như toàn thành phố đang phải trực diên.
Dù đây là buổi đầu tiên do Liên đoàn Cử tri Người Việt tổ chức nhưng sự chuẩn bị khá chu đáo, chuyên nghiệp và diễn tiến trong bầu không khí ôn hòa, lịch sự tạo sự thoải mái cho tất cả mọi người có mặt.
Chủ tọa đoàn gồm bà Phạm mỹ Linh-Giám đốc Trung Tâm Á Mỹ Hạt Santa Clara, Nha sĩ Cao song Dũng, xướng ngôn viên Huỳnh Hớn và Ông Nguyễn Christophe, chuyên viên xã hội quận hạt Santa Clara.
Sau những nghi thức khai mạc thường lệ là phần ứng cử viên trả lời 8 câu hỏi do mỗi vị trong Chủ tọa đoàn tự chọn lựa trước và lần lượt đưa ra, đó là:
1- Sự hiểu biết của ứng viên về cộng đồng VN ở San Jose, về văn hóa, về quá trình di dân của họ và những quan tâm của cộng đồng này.
2- Liên quan đến một tai nạn thương tâm năm ngoái, ứng cử viên nếu đắc cử sẽ làm gì để giúp cư dân khu 7 được di chuyển an toàn hơn.
3- Trong tình hình kinh tế khó khăn tệ nạn tội phạm và băng đảng có thể gia tăng, ứng viên sẽ làm thế nào để tạo ra sự an toàn nơi trường học.
4- Nếu phải cân bằng ngân sách thành phố và vẫn bảo đảm các dịch vụ cần thiết, ứng viên sẽ làm gì để bảo đảm sự phân phối tài chánh nhằm phục vụ tương xứng cho 10% cư dân gốc Việt trong thành phố SJ.
5- Ứng viên có đề nghị gì để ngăn ngừa việc các cảnh sát viên SJ đã sử dụng bạo lực thái quá và không cần thiết đối với cư dân VN nói riêng và các cộng đồng thiểu số nói chung.
6- Trong khi nền kinh tế xuống dốc nhiều gia đình bị mất việc làm và bị ngân hàng tịch thu nhà, nếu đắc cử thì ứng viên sẽ làm gì để giúp giải quyết vấn nạn mất nhà này.
7- Với tỷ lệ thất nghiệp cao trong viễn tượng kinh tế khó khăn hiện nay, ứng viên sẽ có những chương trình gì có thể thực hiện được để giúp người dân có công ăn việc làm, không trở thành vô gia cư.
8- Hơn 30 năm qua, CĐ người Mỹ gốc Việt đã thành công và thăng tiến trong nhiều lãnh vực. Sự đóng góp của người Việt đã được thành phố ghi nhận, quý vị sẽ làm gì để giúp cho cộng đồng Việt Nam tại SJ đạt được những nguyện vọng của họ.
Hai ông Rodriguez và Dương đã thay phiên nhau trả lời từng câu hỏi với thời lượng tổng cộng 4 phút cho mỗi câu bằng song ngữ, ông Minh Dương lưu loát cả Việt lẫn Anh ngữ, ông Scott Phạm đã thông dịch một cách nhanh chóng và khá chính xác ý kiến của ông Rudy Rodriguez.
Hai vị đều đưa ra những ưu điểm cá nhân để chứng tỏ với cử tọa rằng mình xứng đáng và sẵn sàng thi hành nhiệm vụ của một nghị viên là công bộc của người dân, ông Rodriguez còn nhấn mạnh đôi lần rằng là nghị viên tức được nhân dân thuê mướn, nếu không làm tròn bổn phận người dân có quyền không mướn nữa. Ông Minh Dương đã tỏ ra quen thuộc với mong ước của người Việt là muốn có một Trung Tâm Sinh Hoạt cho CĐVN và một tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ.
Sau phần trình bày của 2 ứng cử viên là phần hỏi đáp giữ cử tọa và ứng viên.
Vì thời giờ hạn hẹp nên chỉ đủ cho 3 vị nêu câu hỏi là ông Đặng Cường thắc mắc việc vận động mở lại đại bổi thẩm đoàn cho vụ anh Daniel Phạm, ông Huỳnh Hớn nêu vấn đề nếu quý vị không giữ lời hứa hẹn khi tranh cử khiến cử tri không hài lòng thì quý vị có từ chức không hay phải bị bãi nhiệm .
Cả hai vị đều trả lời rằng mình sẽ không hứa hẹn bất cứ điều gì nếu không thể thực hiện được. Và người nêu thắc mắc cuối cùng là nha sĩ Hồ Vũ hỏi rằng nếu một trong hai người không được vào vòng chung kết (run off) thì có sẽ ủng hộ cho người kia hay không. Hai ứng cử viên đã cam kết sẽ ủng hộ lẫn nhau, những cái bắt tay và nụ cười thân tình của hai vị đã được cử tọa tán thưởng bằng những tràng pháo tay dòn dã.
Dù có người vẫn muốn đặt câu hỏi nữa nhưng đã 9:30 là giờ phải trả phòng cho thư viện nên buổi gặp gỡ phải chấm dứt.
Tuy số người tham dự không được đông đảo nhưng sự tổ chức chu đáo, chuyên nghiệp của LĐCT dù chỉ mới thành lập được một năm và chịu nhiều đánh phá, là một nỗ lực rất đáng khích lệ, đáng tán thưởng.
Hy vọng những lần tới, sẽ có cuộc tranh luận (debates) giữa các ứng cử viên về từng chương trình hành động của họ, để người dân có những nhận xét rõ ràng hơn, kỹ lưỡng hơn hầu quyết định lá phiếu của mình cho xứng đáng, để khỏi trải qua những ngày gian khổ, những buồn phiền uất ức gây ra bởi nghị viên đương nhiệm là bà Madison Nguyễn nữa.
>> Xem Tiếp!
NHÌN LẠI NGÀY 3-3-2009
Một năm đã trôi qua kể từ cuộc bầu cử bãi nhiệm bà Nghị viên gốc Việt Madison Nguyễn, một cuộc bầu cử mà tương quan lực lượng thật là chênh lệch vô cùng. Một bên là thế lực cường quyền đứng sau bà Nghị với một guồng máy quyền lực quy tụ đủ mọi thành phần nặng ký từ Thị Trưởng, HĐTP, Cảnh sát, Cứu hỏa, Nghiệp đoàn, đảng Dân chủ, các công ty xây dựng, các nhóm đặc quyền đặc lợi, các đại gia, tài phiệt.
Một bên chỉ là một cộng đồng người Việt, một sắc dân thiểu số non trẻ mới hơn 30 năm đến Mỹ trong tình trạng kinh hoàng trốn chạy loài quỷ dữ với hai tay trắng, không cả vốn liếng sinh ngữ và nghề nghiệp. Nhưng những người tỵ nạn cộng sản VN này yêu tự do dân chủ hơn ai hết vì họ đã phải trả bằng sinh mạng của mình và gia đình, bằng máu và nước mắt, bằng những năm tù tội trong các trại lao động khổ sai. Vì thế khi bị đối xử bất công, khi bị chính người đồng hương quay lưng phản bội để chà đạp lên nguyện vọng tha thiết cho một cái tên khiêm nhường nhưng thân thương là Little Saigon, mà bà Nghị viên họ Nguyễn chống lại vì cho rằng nó “mang âm hưởng chống Cộng”, những người dân tỵ nạn cộng sản thấp cổ bé miệng nhưng khẳng khái đã không thể im lặng cúi đầu thần phục. Dù biết rằng đây là cuộc giao tranh “trứng chọi với đá”.
Tại sao cả tập đoàn thế lực đứng sau lưng bà Nghị vậy, người ủng hộ bà cho rằng vì bà tài giỏi nên được người thương mến. Sự thật có đơn giản vậy không?
Thực ra người có chút suy nghĩ cũng dễ dàng nhận thấy các lý do:
Thị Trưởng Chuck Reed cần bà vì Hội đồng Thành phố San Jose ai cũng biết là bị điều khiển bởi Nghiệp đoàn Lao động vùng Nam Vịnh, South Bay Labor Union, mà báo địa phương gọi cách hoa mỹ là Labor-friendly Council. Trong đó bà Nora Campos là người có thế mạnh và luôn sẵn sàng chỉ trích ông Reed. Chuck Reed đắc cử nhờ hứa hẹn cải tổ những sai trái của người tiền nhiệm đảng Dân Chủ, với sự ủng hộ của đảng Cộng Hòa và người Việt. Muốn làm được việc phải có đồng minh để đạt được 6 phiếu trên 11, Madison là “con gà” mà ông nhắm tới nên dù bà sai trái đến mức nào cũng phải ủng hộ bằng mọi giá bất kể đạo đức (HTD đã thuật lại lời của Chuck Reed như thế), không thể để mất mặt như đã thua vụ Hon Liên.
Công đoàn Lao động Vùng Nam Vịnh (SBLU) và đảng Dân Chủ muốn giữ thế mạnh của hai thế lực chính trị tại địa phương, họ đã thất bại chua cay vì không thể đưa được bà Cindy Chavez -nay là Chủ Tịch Công Đoàn- lên nắm chức Thị Trưởng dù đã xử dụng tối đa công suất của bộ máy SBLU và đảng DC. Lần bầu bãi nhiệm Madison này, Công đoàn và đảng DC nhất định không thể thua nữa, họ phải thắng với bất cứ giá nào. Đây là cuộc chiến của họ, Madison gặp may là nhờ những lý do trên.
Thêm nữa, các công ty xây cất, đại gia tài phiệt, các nhóm đặc quyền đặc lợi cũng nhận thấy bà Madison là người dễ lung lạc, dễ lôi cuốn nên ai cũng nhào vô ủng hộ để sau này được kể công, được đòi trả ơn bằng những quyền lợi béo bở nếu bà thắng cử, còn nếu thua họ cũng chẳng thiệt hại gì mấy.
Ta thấy kỳ này bà ta vẫn được các thế lực và vây cánh trên yểm trợ vì họ đã bỏ ra quá nhiều tiền và nhân lực, những con buôn chính trị cũng như con buôn thương mại luôn luôn muốn lời nhiều, muốn “đòi nợ” tối đa chứ từ 3-3-2009 đến tháng 11-2010 thời gian ngắn quá chưa đủ lấy lại vốn lẫn lời. Đó là chưa kể đến bọn nằm vùng ra sức đánh phá nhằm làm yếu đi sức mạnh của Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản San Jose.
Tuy nhiên với quyết tâm và đoàn kết chặt chẽ, đừng tạo cơ hội cho đối phương khai thác để chia rẽ, chúng ta vẫn có thể thay đổi thời cuộc để đưa bà Nghị bất xứng về vườn.
Bài viết cũ này xin gửi lại báo THM để chúng ta cùng “ôn cố nhi tri tân”, hy vọng những người năm trước vì sợ tốn tiền nhà nước, vì thiếu thông tin, vì lầm lẫn, vì cảm tình riêng tư, vì mặc cảm tự ti, tự tôn… . sẽ thay đổi cách nhìn của mình để bầu đúng, cử xứng.
Một năm trước ngày bầu bãi nhiệm của San Jose, vào ngày 5 tháng 2, 2008 có cuộc bầu cử bãi nhiệm đồng thời bầu người thay thế tại thành phố nhỏ Pinole thuộc quận hạt Contra Costa, vùng Bắc Cali với kết quả như sau:
- Bà cựu Thị Trưởng Maria Alegria, đã ở trong HĐTP 15 năm YES 58.38%. Ông Stephen Telton, nghị viên năm thứ nhất YES 57%.
- Nghị viên David Cole đã từ nhiệm từ hồi tháng 8-2007 để tránh bị bãi nhiệm qua cuộc bầu cử đặc biệt này.
Cư dân thành phố vui mừng với 3 vị nghị viên mới gồm 2 bà 1 ông.
Khu vực 7 của thành phố San Jose cũng có cuộc bầu cử bãi nhiệm bà nghị viên Madison Nguyễn, chúng ta thử tìm hiểu những điểm khác biệt chính giữa hai cuộc bầu cử này:
1- Cuộc bầu cử bãi nhiệm ở Pinole được tổ chức cùng lúc với việc bầu Nghị viên mới, điều này vừa tiết kiệm được tiền bạc, thời giờ của dân, vừa khiến cho nhiều người mạnh dạn ra ứng cử và dân chúng hăng hái đi bầu. Dân khu vực 7 nhiều người bầu NO chỉ vì Thị Trưởng Chuck Reed ra sức cứu bà Madison bằng cách không cho bầu bãi nhiệm và nghị viên mới cùng một lần. Dù đây là 1 trong những điểm quan trọng ông ta đã hứa khi ra tranh cử chức TT và tháng 1-2008 HĐTP San Jose đã thông qua với 11 phiếu, chỉ còn chờ đưa ra cho dân bầu mà thôi.
3- Hầu hết giới chức dân cử các cấp, báo chí, nghiệp đoàn, các nhóm đặc quyền đặc lợi, thương gia đều ủng hộ bà Alegria.
Tuy nhiên Hiệp Hội Nhân Viên Cảnh Sát Pinole đã hành xử một cách rất đứng đắn khi gửi thư đến báo Contra Costa Times để minh định:
“Our membership believes in open government. We swore an oath to defend the US Constitution and the California state Constitution. These two documents guarantee the people the right to elect their representatives in free and fair elections….Therefore, we will not take a position to endorse or oppose the community’s efforts to exercise free government.” Đại ý câu này nhắc lại lời thề bảo vệ Hiến Pháp HK và California bảo đảm cho dân có quyền chọn người đại diện trong các cuộc bầu cử công bằng và tự do, vì thế Hiệp Hội Cảnh Sát không ủng hộ cũng không chống đối những nỗ lực của cộng đồng hành xử quyền của (người dân trong một) nhà nước tự do.
Ông Thị Trưởng SJ Chuck Reed và những vị dân cử, từng sỉ nhục hơn 5000 người ký recall nghị viên Madison là “thiểu số to mồm”, là “đầu óc hẹp hòi” là côn đồ “bully thành phố” rồi quyết tâm “vùi dập recall, punch them v..v..” cùng những người Việt tán thành các lời sỉ nhục như thế nghĩ sao về thái độ trung lập, không kéo bè kết cánh của Hiệp Hội Cảnh Sát thành phố Pinole.
Tại sao người Việt ở San Jose thực hiện Recall theo hiến định thì bị hăm dọa cắt trợ cấp, bị sách nhiễu vu khống, còn người Mỹ ở bang California (bãi nhiệm TĐ Gray Davis) và thành phố Pinole thì không?
Sự rất khác biệt giữa hai cuộc Recall là vùng Pinole không có ai đưa ra những luận điệu như ký Recall sẽ bị mất phúc lợi của chính phủ, không một ai đưa ra luận điệu rằng Recall là ác tâm, là sắt máu, là chống cộng ngu xuẩn, không ai đưa đời tư, đưa tôn giáo những vị đứng đầu để chửi bới vu khống, không ai mạ lỵ những người đóng góp cho recall là bị lừa dối, ngu dại , không ai bảo rằng ghế nghị viên là bảo vật của người Việt truyền từ đời nọ qua đời kia, không được để mất vào tay người khác, đặc biệt truyền thông báo chí ở vùng Contra Costa không ra rả đặt điều dựng chuyện chửi bới và hăm dọa như một số cơ quan truyền thông vùng San Jose.
Chúng ta đã hiện diện ở đất nước tự do này hơn 30 năm, liệu chúng ta đã học được cách hành xử và suy nghĩ một cách dân chủ, đứng đắn, hợp pháp hợp hiến, biết rõ quyền lợi và bổn phận của mình mà không tự ti chủng tộc chưa?
“What you have to understand is that most people in this country are men and women of common sense and when somebody gets out of line, the people take charge and put him out of business. In the long run, people with common sense always take over.” Đây là lời cố Tổng Thống thứ 33 của Hoa Kỳ Harry Truman được trang mạng của Concerned Citizens of Pinole trích dẫn.
Xin gửi đến quý đồng hương để suy gẫm. Người Việt chúng ta phải ở xứ này thêm bao nhiêu năm nữa mới học được cách hành xử đúng đắn để thi hành những quyền của người dân được Hiến pháp HK công nhận mà không mang mặc cảm hoặc vu cáo cho người khác là “ chống Mỹ cứu nước”!!! là “chống chính quyền”, là “chống người thi hành công vụ!!!
Nhìn lại ngày bầu cử Recall một năm trước đây, tôi cảm thấy hãnh diện vì những gì Uỷ Ban Bãi Nhiệm và toàn thể Cộng Đồng đã đạt được, dù chúng ta không thành công trong cuộc chiến “châu chấu đá xe” nhưng đây là một cơ hội quý báu để rút kinh nghiệm, để các bạn trẻ học được những bài học đáng giá trong sinh hoạt chính trị trên quê hương thứ hai này. Có thể nói được ngày 3-3-2009 là một cuộc tranh tài giữa một người chưa hề có kinh nghiệm, chưa bao giờ lên sàn đấu với một võ sĩ chuyên nghiệp được sự hỗ trợ tối đa của mấy ông chủ lớn đầy mưu kế, vậy mà võ sĩ kia cũng bị xất bất xang bang, trầy da tróc vảy mới thắng được ở hiệp cuối cùng với tỷ số 45-55. Vậy nên “Đừng đem thành bại mà luận anh hùng”.
Xin cảm ơn Uỷ Ban Bãi Nhiệm Nghị Viên Madison, xin chúc Liên Đoàn Cử Tri “chân cứng đá mềm” để tiếp tục đi tới trên con đường phục vụ Cộng Đồng và Cử Tri.
Nguyễn thị Quảng Bình
>> Xem Tiếp!
Một bên chỉ là một cộng đồng người Việt, một sắc dân thiểu số non trẻ mới hơn 30 năm đến Mỹ trong tình trạng kinh hoàng trốn chạy loài quỷ dữ với hai tay trắng, không cả vốn liếng sinh ngữ và nghề nghiệp. Nhưng những người tỵ nạn cộng sản VN này yêu tự do dân chủ hơn ai hết vì họ đã phải trả bằng sinh mạng của mình và gia đình, bằng máu và nước mắt, bằng những năm tù tội trong các trại lao động khổ sai. Vì thế khi bị đối xử bất công, khi bị chính người đồng hương quay lưng phản bội để chà đạp lên nguyện vọng tha thiết cho một cái tên khiêm nhường nhưng thân thương là Little Saigon, mà bà Nghị viên họ Nguyễn chống lại vì cho rằng nó “mang âm hưởng chống Cộng”, những người dân tỵ nạn cộng sản thấp cổ bé miệng nhưng khẳng khái đã không thể im lặng cúi đầu thần phục. Dù biết rằng đây là cuộc giao tranh “trứng chọi với đá”.
Tại sao cả tập đoàn thế lực đứng sau lưng bà Nghị vậy, người ủng hộ bà cho rằng vì bà tài giỏi nên được người thương mến. Sự thật có đơn giản vậy không?
Thực ra người có chút suy nghĩ cũng dễ dàng nhận thấy các lý do:
Thị Trưởng Chuck Reed cần bà vì Hội đồng Thành phố San Jose ai cũng biết là bị điều khiển bởi Nghiệp đoàn Lao động vùng Nam Vịnh, South Bay Labor Union, mà báo địa phương gọi cách hoa mỹ là Labor-friendly Council. Trong đó bà Nora Campos là người có thế mạnh và luôn sẵn sàng chỉ trích ông Reed. Chuck Reed đắc cử nhờ hứa hẹn cải tổ những sai trái của người tiền nhiệm đảng Dân Chủ, với sự ủng hộ của đảng Cộng Hòa và người Việt. Muốn làm được việc phải có đồng minh để đạt được 6 phiếu trên 11, Madison là “con gà” mà ông nhắm tới nên dù bà sai trái đến mức nào cũng phải ủng hộ bằng mọi giá bất kể đạo đức (HTD đã thuật lại lời của Chuck Reed như thế), không thể để mất mặt như đã thua vụ Hon Liên.
Công đoàn Lao động Vùng Nam Vịnh (SBLU) và đảng Dân Chủ muốn giữ thế mạnh của hai thế lực chính trị tại địa phương, họ đã thất bại chua cay vì không thể đưa được bà Cindy Chavez -nay là Chủ Tịch Công Đoàn- lên nắm chức Thị Trưởng dù đã xử dụng tối đa công suất của bộ máy SBLU và đảng DC. Lần bầu bãi nhiệm Madison này, Công đoàn và đảng DC nhất định không thể thua nữa, họ phải thắng với bất cứ giá nào. Đây là cuộc chiến của họ, Madison gặp may là nhờ những lý do trên.
Thêm nữa, các công ty xây cất, đại gia tài phiệt, các nhóm đặc quyền đặc lợi cũng nhận thấy bà Madison là người dễ lung lạc, dễ lôi cuốn nên ai cũng nhào vô ủng hộ để sau này được kể công, được đòi trả ơn bằng những quyền lợi béo bở nếu bà thắng cử, còn nếu thua họ cũng chẳng thiệt hại gì mấy.
Ta thấy kỳ này bà ta vẫn được các thế lực và vây cánh trên yểm trợ vì họ đã bỏ ra quá nhiều tiền và nhân lực, những con buôn chính trị cũng như con buôn thương mại luôn luôn muốn lời nhiều, muốn “đòi nợ” tối đa chứ từ 3-3-2009 đến tháng 11-2010 thời gian ngắn quá chưa đủ lấy lại vốn lẫn lời. Đó là chưa kể đến bọn nằm vùng ra sức đánh phá nhằm làm yếu đi sức mạnh của Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản San Jose.
Tuy nhiên với quyết tâm và đoàn kết chặt chẽ, đừng tạo cơ hội cho đối phương khai thác để chia rẽ, chúng ta vẫn có thể thay đổi thời cuộc để đưa bà Nghị bất xứng về vườn.
Bài viết cũ này xin gửi lại báo THM để chúng ta cùng “ôn cố nhi tri tân”, hy vọng những người năm trước vì sợ tốn tiền nhà nước, vì thiếu thông tin, vì lầm lẫn, vì cảm tình riêng tư, vì mặc cảm tự ti, tự tôn… . sẽ thay đổi cách nhìn của mình để bầu đúng, cử xứng.
Một năm trước ngày bầu bãi nhiệm của San Jose, vào ngày 5 tháng 2, 2008 có cuộc bầu cử bãi nhiệm đồng thời bầu người thay thế tại thành phố nhỏ Pinole thuộc quận hạt Contra Costa, vùng Bắc Cali với kết quả như sau:
- Bà cựu Thị Trưởng Maria Alegria, đã ở trong HĐTP 15 năm YES 58.38%. Ông Stephen Telton, nghị viên năm thứ nhất YES 57%.
- Nghị viên David Cole đã từ nhiệm từ hồi tháng 8-2007 để tránh bị bãi nhiệm qua cuộc bầu cử đặc biệt này.
Cư dân thành phố vui mừng với 3 vị nghị viên mới gồm 2 bà 1 ông.
Khu vực 7 của thành phố San Jose cũng có cuộc bầu cử bãi nhiệm bà nghị viên Madison Nguyễn, chúng ta thử tìm hiểu những điểm khác biệt chính giữa hai cuộc bầu cử này:
1- Cuộc bầu cử bãi nhiệm ở Pinole được tổ chức cùng lúc với việc bầu Nghị viên mới, điều này vừa tiết kiệm được tiền bạc, thời giờ của dân, vừa khiến cho nhiều người mạnh dạn ra ứng cử và dân chúng hăng hái đi bầu. Dân khu vực 7 nhiều người bầu NO chỉ vì Thị Trưởng Chuck Reed ra sức cứu bà Madison bằng cách không cho bầu bãi nhiệm và nghị viên mới cùng một lần. Dù đây là 1 trong những điểm quan trọng ông ta đã hứa khi ra tranh cử chức TT và tháng 1-2008 HĐTP San Jose đã thông qua với 11 phiếu, chỉ còn chờ đưa ra cho dân bầu mà thôi.
3- Hầu hết giới chức dân cử các cấp, báo chí, nghiệp đoàn, các nhóm đặc quyền đặc lợi, thương gia đều ủng hộ bà Alegria.
Tuy nhiên Hiệp Hội Nhân Viên Cảnh Sát Pinole đã hành xử một cách rất đứng đắn khi gửi thư đến báo Contra Costa Times để minh định:
“Our membership believes in open government. We swore an oath to defend the US Constitution and the California state Constitution. These two documents guarantee the people the right to elect their representatives in free and fair elections….Therefore, we will not take a position to endorse or oppose the community’s efforts to exercise free government.” Đại ý câu này nhắc lại lời thề bảo vệ Hiến Pháp HK và California bảo đảm cho dân có quyền chọn người đại diện trong các cuộc bầu cử công bằng và tự do, vì thế Hiệp Hội Cảnh Sát không ủng hộ cũng không chống đối những nỗ lực của cộng đồng hành xử quyền của (người dân trong một) nhà nước tự do.
Ông Thị Trưởng SJ Chuck Reed và những vị dân cử, từng sỉ nhục hơn 5000 người ký recall nghị viên Madison là “thiểu số to mồm”, là “đầu óc hẹp hòi” là côn đồ “bully thành phố” rồi quyết tâm “vùi dập recall, punch them v..v..” cùng những người Việt tán thành các lời sỉ nhục như thế nghĩ sao về thái độ trung lập, không kéo bè kết cánh của Hiệp Hội Cảnh Sát thành phố Pinole.
Tại sao người Việt ở San Jose thực hiện Recall theo hiến định thì bị hăm dọa cắt trợ cấp, bị sách nhiễu vu khống, còn người Mỹ ở bang California (bãi nhiệm TĐ Gray Davis) và thành phố Pinole thì không?
Sự rất khác biệt giữa hai cuộc Recall là vùng Pinole không có ai đưa ra những luận điệu như ký Recall sẽ bị mất phúc lợi của chính phủ, không một ai đưa ra luận điệu rằng Recall là ác tâm, là sắt máu, là chống cộng ngu xuẩn, không ai đưa đời tư, đưa tôn giáo những vị đứng đầu để chửi bới vu khống, không ai mạ lỵ những người đóng góp cho recall là bị lừa dối, ngu dại , không ai bảo rằng ghế nghị viên là bảo vật của người Việt truyền từ đời nọ qua đời kia, không được để mất vào tay người khác, đặc biệt truyền thông báo chí ở vùng Contra Costa không ra rả đặt điều dựng chuyện chửi bới và hăm dọa như một số cơ quan truyền thông vùng San Jose.
Chúng ta đã hiện diện ở đất nước tự do này hơn 30 năm, liệu chúng ta đã học được cách hành xử và suy nghĩ một cách dân chủ, đứng đắn, hợp pháp hợp hiến, biết rõ quyền lợi và bổn phận của mình mà không tự ti chủng tộc chưa?
“What you have to understand is that most people in this country are men and women of common sense and when somebody gets out of line, the people take charge and put him out of business. In the long run, people with common sense always take over.” Đây là lời cố Tổng Thống thứ 33 của Hoa Kỳ Harry Truman được trang mạng của Concerned Citizens of Pinole trích dẫn.
Xin gửi đến quý đồng hương để suy gẫm. Người Việt chúng ta phải ở xứ này thêm bao nhiêu năm nữa mới học được cách hành xử đúng đắn để thi hành những quyền của người dân được Hiến pháp HK công nhận mà không mang mặc cảm hoặc vu cáo cho người khác là “ chống Mỹ cứu nước”!!! là “chống chính quyền”, là “chống người thi hành công vụ!!!
Nhìn lại ngày bầu cử Recall một năm trước đây, tôi cảm thấy hãnh diện vì những gì Uỷ Ban Bãi Nhiệm và toàn thể Cộng Đồng đã đạt được, dù chúng ta không thành công trong cuộc chiến “châu chấu đá xe” nhưng đây là một cơ hội quý báu để rút kinh nghiệm, để các bạn trẻ học được những bài học đáng giá trong sinh hoạt chính trị trên quê hương thứ hai này. Có thể nói được ngày 3-3-2009 là một cuộc tranh tài giữa một người chưa hề có kinh nghiệm, chưa bao giờ lên sàn đấu với một võ sĩ chuyên nghiệp được sự hỗ trợ tối đa của mấy ông chủ lớn đầy mưu kế, vậy mà võ sĩ kia cũng bị xất bất xang bang, trầy da tróc vảy mới thắng được ở hiệp cuối cùng với tỷ số 45-55. Vậy nên “Đừng đem thành bại mà luận anh hùng”.
Xin cảm ơn Uỷ Ban Bãi Nhiệm Nghị Viên Madison, xin chúc Liên Đoàn Cử Tri “chân cứng đá mềm” để tiếp tục đi tới trên con đường phục vụ Cộng Đồng và Cử Tri.
Nguyễn thị Quảng Bình
>> Xem Tiếp!
Saturday, March 20, 2010
Thư Mời của Lương Tâm Công Giáo
Thư Mời
Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,
quý hội đoàn, tổ chức, quý thân hào nhân sĩ,
cùng quý đồng hương tỵ nạn cộng sản.
Thưa quý vị, thời gian gần đây quý vị hẳn biết rằng LM Nguyễn văn Lý, một tù nhân lương tâm bất khuất, qua những năm tháng tù đày khắc nghiệt dưới chế độ csVN đã mang những chứng bệnh nguy hiểm làm sức khỏe ngài suy yếu trầm trọng. Mặc dầu mới đây vào ngày 15-3 vừa qua, LM Lý đã được “tạm đình chỉ thi hành án trong 12 tháng để chữa bệnh” tại Tòa TGM Huế nhưng ngài đáng phải được csVN trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện như đòi hỏi của nhiều tổ chức quốc tế và của tất cả những người yêu chuộng công lý.
Ngày 30-3 tới đây là đúng 3 năm phiên tòa bịt miệng cha Lý mà tấm hình độc nhất vô nhị này đã được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới để tố cáo phiên tòa man rợ, phi lý, vô luật của csVN.
LTCG sẽ tổ chức một buổi sinh hoạt vào Chúa Nhật 28-3-2010 vào lúc 2:30 chiều tại thư viện Tully số 880 đường Tully, San Jose để đánh dấu 3 năm phiên tòa bịt miệng.
Khách mời có LM Nguyên Thanh và Thi sĩ Nguyễn chí Thiện từ Nam Cali. Tiến sĩ Trần an Bài sẽ nói chuyện về phiên tòa này.
Sẽ có lời phát biểu từ VN của hai LM Nguyễn văn Lý và Phan văn Lợi.
Xin kính mời quý vị bớt chút thời giờ đến tham dự để bày tỏ lòng quan tâm đến LM Nguyễn văn Lý , người chiến sĩ kiên trì đấu tranh cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền không hề biết mệt mòi này.
Trân trọng kính mời.
TM. Lương Tâm Công Giáo
Cao thị Tình
Mọi thắc mắc xin liên lạc (408) 979-9298
>> Xem Tiếp!
Chủ Đề
Cộng Đồng,
Đời Sống,
Nhân Quyền,
Tôn Giáo,
Xã Hội
Friday, March 19, 2010
Báo Thế Hệ Mới: Số 5
Kính mời quý vị đọc báo Thế Hệ Mới số 5 và các số trước tại đây: www.vietvoter.com/thm.html
>> Xem Tiếp!
>> Xem Tiếp!
Chương Trình Phát Thanh Ngày 20 Tháng 3, 2010
Chúng tôi xin kính mời quý vị theo dõi các cuộc phỏng vấn của LĐCT với các ứng cử viên khu vực 7 và thị trưởng thành phố san Jose:
1. Anh Minh Dương (Ứng Cử Viên KV7)
2. Ông Rudy Rodriguez (Ứng Cử Viên KV7)
3. Anh Thomas Nguyễn (Ứng Cử Viên thành phố San Jose)
Nghe Trực Tiếp tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
1. Anh Minh Dương (Ứng Cử Viên KV7)
2. Ông Rudy Rodriguez (Ứng Cử Viên KV7)
3. Anh Thomas Nguyễn (Ứng Cử Viên thành phố San Jose)
Nghe Trực Tiếp tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
Friday, March 12, 2010
Chương Trình Phát Thanh: Ngày 13 Tháng 3, 2010
Chương trình phát thanh của Liên Đoàn Cử Tri ngày 13/3/2010
1.-Phần giới thiệu các cơ sở thương mại yểm trợ cho chương trình phát thanh của Liên Đoàn Cử Tri
2.-Phần phỏng vấn các chủ tọa đoàn của buổi hội thảo của các ứng cử viên tranh cử chức nghị viên khu vực 7: Bác sĩ nha khoa Cao Song Dũng và cô Phạm Mỹ Linh giám đốc Trung Tâm Á-Mỹ của hạt Santa Clara
3.-Phần trả lời câu hỏi liên quan đến vấn đề kinh tế của hai ƯCV Minh Dương và Rudy Rodriguez trong buổi hội thảo 11/3/2010 tai thư viện Evergreen Branch Library
4.-Tin tức cuộc ghi danh tranh cử 2010:
Chức vụ thị trưởng San Jose có các ứng viên sau đây:Chuck Reed, Susan Baragan, Bill Chew, Michael Trần Mỹ và Thomas Nguyen.
Khu Vực 7: Madison Nguyễn, Michael Trần Mỹ, Patrick Lê Hữu Phú, Minh Dương và có thể có Nguyễn Việt Nam
Nghe Trực Tiếp Tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
1.-Phần giới thiệu các cơ sở thương mại yểm trợ cho chương trình phát thanh của Liên Đoàn Cử Tri
2.-Phần phỏng vấn các chủ tọa đoàn của buổi hội thảo của các ứng cử viên tranh cử chức nghị viên khu vực 7: Bác sĩ nha khoa Cao Song Dũng và cô Phạm Mỹ Linh giám đốc Trung Tâm Á-Mỹ của hạt Santa Clara
3.-Phần trả lời câu hỏi liên quan đến vấn đề kinh tế của hai ƯCV Minh Dương và Rudy Rodriguez trong buổi hội thảo 11/3/2010 tai thư viện Evergreen Branch Library
4.-Tin tức cuộc ghi danh tranh cử 2010:
Chức vụ thị trưởng San Jose có các ứng viên sau đây:Chuck Reed, Susan Baragan, Bill Chew, Michael Trần Mỹ và Thomas Nguyen.
Khu Vực 7: Madison Nguyễn, Michael Trần Mỹ, Patrick Lê Hữu Phú, Minh Dương và có thể có Nguyễn Việt Nam
Nghe Trực Tiếp Tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
Tuesday, March 9, 2010
Thư Mời Hội Thảo
Thư Mời Hội Thảo
Liên Đoàn Cử Tri trân trọng kính mời,
Toàn thể đồng hương cử tri và quý hội đoàn vui lòng dành chút thì giờ quí báu đến tham dự buổi hội thảo của các ứng cử viên Khu Vực 7 ra tranh cử trong cuộc bầu cử sơ bộ năm 2010:
Thời gian: Ngày Thứ Năm 11 tháng 03 năm 2010 vào lúc 07:00PM
Địa điểm: Evergreen Branch Library, 2635 Aborn Rd,
San José, CA 95121, (408) 808-3060
Mục đích:
1.-Trao đổi sự hiểu biết và giá trị của ứng cử viên với cử tri.
2.-Trình bầy những nhu cầu và ý kiến của cử tri.
3.-Tạo bầu không khí phấn khởi và chú ý của đồng hương để gia tăng số cử tri ghi danh và hăng say đi bầu trong tháng 6 năm 2010.
Chủ Toạ Đoàn gồm có:
1. Nha sĩ Cao Song Dũng
2. Xướng ngôn viên Huỳnh Hớn
3. Cô Phạm Mỹ Linh –Giám đốc Trung Tâm Á-Mỹ Hạt Santa Clara
4. Nguyễn Christophe – Chuyên Viên Xã Hội Hạt Santa Clara
Sự hiện diện của Quý Vị là niềm khích lệ lớn lao đối với tiến trình dân chủ và sự lớn mạnh của cộng đồng đa sắc dân trong thành phố San Jose.
Trân trọng kính mời,
San Jose, ngày 06 tháng 03 năm 2010
TM. Liên Đoàn Cử Tri
Luật Sư Ngô văn Tiệp
Liên lạc:
Thomas Nguyễn: (408) 206-2605
Hồ Vũ: (408) 202-1344
Lê Lộc (408) 799-7672
Ghi chú: Buổi hội thảo sẽ được thực hiện bằng song ngữ Anh- Việt
>> Xem Tiếp!
Sunday, March 7, 2010
Thư Ngỏ Của Liên Đoàn Cử Tri
Viet-American Voters of Northern California
Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc CA (VAVNC)
P.O Box: 0 San Jose, CA 95151-0015 --- (408) 591-1699
WWW.VIETVOTER.COM VIETVOTERS@GMAIL.COM
Thư Ngỏ Của Liên Đoàn Cử Tri
Kính gửi:
- Trung Tá Lương Văn Ngọ (Trung Tâm Trưởng Tập Thể Chiến Sĩ VNCH vùng Tây Bắc Hoa Kỳ)
- Quý đồng hương cử tri Việt Nam Bắc California
Trước ngưỡng cửa Xuân Canh Dần với nhiều hứa hẹn cho một vận hội mới trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản chúng ta, Liên Đoàn Cử Tri xin được kính chúc quý đồng hương cử tri người Việt tại miền bắc California được an khang, thịnh vượng, và luôn hăng say trong các công tác xây dựng và củng cố sự đoàn kết và lớn mạnh của cộng đồng. Nhân dịp này Liên Đoàn Cử Tri (LĐCT) xin được trình bày đến quý đồng hương các vấn đề sau:
1. Tôn chỉ của Liên Đoàn là luôn bảo vệ và củng cố sự đoàn kết trong nội bộ, cũng như với các tổ chức và hội đoàn khác trong cộng đồng chúng ta dựa trên châm ngôn “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” của tổ tiên ta từ ngàn xưa. Chính nhờ áp dụng châm ngôn về sự đoàn kết làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình, Liên Đoàn đã chọn thái độ giữ im lặng trước những đánh phá và vu cáo từ nhiều phía trong thời gian qua để không mắc mưu các kẻ xấu cố tình gây chia rẽ trong nội bộ người Việt Quốc Gia.
2. Liên Đoàn xin chân thành cám ơn các quý vị sau đây: quý ông Vũ Huynh Trưởng, Trương Ngọc Mỹ, Lâm Hùng Tráng, Trương Ngọc Hiệp, Trung Tá Lương Văn Ngọ, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình (đại diện Hội Đồng Tướng Lãnh) đã đứng giữa chứng kiến sự bắt tay của đại diện LĐCT và đại diện Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Bắc Cali (BĐDCĐ) nhân ngày chào cờ thiêng liêng đầu năm Canh Dần vừa qua. Liên Đoàn cũng xin tri ân nhiều đồng hương cũng như các vị cố vấn của Liên Đoàn đã nhiều lần vận động để Liên Đoàn và Ban Đại Diện Cộng Đồng có cơ hội bắt tay đoàn kết để cùng xây dựng cộng đồng.
3. Sau cùng, Liên Đoàn đặc biệt ghi nhận thiện chí của Trung Tá Lương Văn Ngọ cùng Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ qua bản Thông Báo (ký ngày 23 tháng 2 năm 2010) kêu gọi sự đoàn kết trong cộng đồng được phổ biến trên mạng internet Vietland. Sau khi được đồng hương cho biết có thông báo kêu gọi trên, Ls Ngô Văn Tiệp có gặp Trung Tá Lương Văn Ngọ tại bữa tiệc Tân Niên Xuân Canh Dần của Hội CSVSQ /TVBQGVN Bắc CA ngày Chủ Nhật 28 tháng 2 năm 2010 và có nói chuyện qua điện thoại ngày Thứ Hai 1 tháng 3 năm 2010, Trung Tá Trung Tâm Trưởng cho biết đang soạn văn thư chính thức để gửi cho LĐCT.
Sự đoàn kết luôn luôn là lý lẽ sống còn mà tổ tiên ta đã truyền từ đời này sang đời khác trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Khí thế quân dân trên dưới một lòng đoàn kết của Hội Nghị Diên Hồng năm xưa như mời gọi chúng ta theo gót tiền nhân ngồi lại với nhau để cùng nhau cộng tác, phục vụ cho lợi ích của cộng đồng. Đây cũng là niềm mong ước và quan tâm của toàn thể đồng hương tị nạn Cộng Sản. Vì tính cách quan trọng đó, Liên Đoàn ước mong sớm nhận được thư mời từ Trung Tá Lương Văn Ngọ về một buổi họp khoáng đại để hàng ngàn đồng hương cùng tham dự. Tốt đẹp biết bao khi hàng ngàn đồng hương tham dự buổi họp khoáng đại này để cùng nhau vui hưởng mùa Xuân tươi đẹp năm Canh Dần, hứa hẹn một vận hội mới tốt đẹp hơn, và một sự chuyển mình ý nghĩa hơn cho cộng đồng chúng ta khi sự đoàn kết được vãn hồi giống như hình ảnh của phiên họp khoáng đại tháng 12 năm 2007 tại GI Forum.
Trân trọng kính chào đoàn kết
San Jose, ngày 5 tháng 3 năm 2010
TM. Liên Đoàn Cử Tri
Chủ Tịch Ban Chấp Hành
LS Ngô Văn Tiệp
>> Xem Tiếp!
Friday, March 5, 2010
Chương Trình Phát Thanh: Ngày 6 Tháng 3, 2010
Chương trình phát thanh của Liên Đoàn Cử Tri ngày 6 tháng 3 năm 2010.
1.-Thư cám ơn của gia đình Phạm Vinh cha của Daniel Phạm
2.-Tin tức bầu cử về hai ứng cử viên chức vụ Chánh Biện Lý Cuộc Santa Clara
3.-Thư Mời Hội Thảo giữa các Ứng Cử Viên tranh chức vụ nghị viên khu vực 7: Ngày 11 Tháng 3, 2010
4.-Ông Chủ Tịch Cộng Đồng Nguyễn Ngọc Tiên nói rõ lý do thành lập Liên Đoàn Cử Tri ngày 13/3/2009: Sức mạnh cộng đồng qua lá phiếu dân chủ, các công tác chính của Ban Đại Diện Cộng Đồng trong tương lai. Đây là một kỳ tích. Tri ân Ủy Ban Bãi Nhiệm.
5.-Ông Chủ Tịch Cộng Đồng Nguyễn Ngọc Tiên trình bày lý thuyết đoàn kết với ai và như thế nào để đứng dậy trong ý chí bất khuất trong cơ hội ngàn năm một thuở. Ai cũng sai lầm cả nhưng chúng ta phải nhìn ra sự sai lầm để sửa đổi. Cảnh giác không có phải là la lên để làm rối loạn hàng ngũ của chúng ta.
6.-Huỳnh Hớn tường trình những diễn tiến chung quanh việc thành lập Liên Đoàn Cử Tri qua sự mong ước của đa sô đồng hương cử tri Việt Nam.
7.-Mong ước của mọi người từ Ông chủ tịch CĐ Nguyễn Ngọc Tiên cho đến những bô lão như ông Nguyễn Ruộng đều mong muốn có một sự đoàn kết để dìu nhau đứng lên chống lại sự vùi dập của kẻ thù. Hãy quên đi đau thương để đúng lên và hành động bằng lá phiếu của chúng ta.
Cộng Đồng Việt Nam cần có sự sáng suốt, thành thật, và cương quyết để đứng lên sửa sai nhằm tạo dựng sự đoàn kết và bình an cho mọi người và mọi hội đoàn.
Nghe Trực Tiếp Tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
1.-Thư cám ơn của gia đình Phạm Vinh cha của Daniel Phạm
2.-Tin tức bầu cử về hai ứng cử viên chức vụ Chánh Biện Lý Cuộc Santa Clara
3.-Thư Mời Hội Thảo giữa các Ứng Cử Viên tranh chức vụ nghị viên khu vực 7: Ngày 11 Tháng 3, 2010
4.-Ông Chủ Tịch Cộng Đồng Nguyễn Ngọc Tiên nói rõ lý do thành lập Liên Đoàn Cử Tri ngày 13/3/2009: Sức mạnh cộng đồng qua lá phiếu dân chủ, các công tác chính của Ban Đại Diện Cộng Đồng trong tương lai. Đây là một kỳ tích. Tri ân Ủy Ban Bãi Nhiệm.
5.-Ông Chủ Tịch Cộng Đồng Nguyễn Ngọc Tiên trình bày lý thuyết đoàn kết với ai và như thế nào để đứng dậy trong ý chí bất khuất trong cơ hội ngàn năm một thuở. Ai cũng sai lầm cả nhưng chúng ta phải nhìn ra sự sai lầm để sửa đổi. Cảnh giác không có phải là la lên để làm rối loạn hàng ngũ của chúng ta.
6.-Huỳnh Hớn tường trình những diễn tiến chung quanh việc thành lập Liên Đoàn Cử Tri qua sự mong ước của đa sô đồng hương cử tri Việt Nam.
7.-Mong ước của mọi người từ Ông chủ tịch CĐ Nguyễn Ngọc Tiên cho đến những bô lão như ông Nguyễn Ruộng đều mong muốn có một sự đoàn kết để dìu nhau đứng lên chống lại sự vùi dập của kẻ thù. Hãy quên đi đau thương để đúng lên và hành động bằng lá phiếu của chúng ta.
Cộng Đồng Việt Nam cần có sự sáng suốt, thành thật, và cương quyết để đứng lên sửa sai nhằm tạo dựng sự đoàn kết và bình an cho mọi người và mọi hội đoàn.
Nghe Trực Tiếp Tại: www.vietvoter.com/radio.html
>> Xem Tiếp!
Thursday, March 4, 2010
Câu Chuyện Một Cành Mai
Lời Toà Soạn: Giáo Sư Lưu Khôn, nguyên Giảng Sư Đại Học Văn Khoa Saigon, là Cố Vấn của Liên Đoàn Cử Tri Người Việt Bắc California. Nhân cảm thấy hứng khởi khi đọc bài “Cành Đào Báo Tiệp” của bạn trẻ Bùi Sơn, Giáo Sư viết bài này để xin được đóng góp thêm chút hương sắc cho mùa Xuân nước Việt.
THM xin được chân thành cảm tạ Giáo Sư Lưu Khôn.
***
Thiệp Chúc Tết của Hội Ái Hữu Phan Thanh Giản –Đoàn Thị Điểm Bắc California năm nay (2010) có ghi câu đối:
Xuân đến, Xuân đi, Xuân bất tận.
Vật dời, vật đổi, vật không cùng.
Dịch từ chữ Hán:
Xuân khứ, Xuân lai, Xuân bất tận .
Vật đi, vật hoán, vật vô cùng.
Câu đối này khiến chúng ta liên tưởng đến một bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác (1051-1096) đời Lý, bài “Cáo tật thị chúng” (Có bệnh bảo với mọi người):
Xuân khứ, bách hoa lạc,
Xuân đáo, bách hoa khai,
Sự trạc nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai,
Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận,
Đình tiền, tạc dạ, nhất chi mai.
Dịch nghiã:
Xuân đi, trăm hoa rụng,
Xuân đến, trăm hoa nở.
Việc đời lần lượt trôi qua trước mắt,
Cái già xuất hiện từ trên mái đầu.
Chớ bảo Xuân tàn, hoa rụng hết.
Đêm qua, một cành mai nở trước sân.
Bài kệ đã đưa ra những hình ảnh cụ thể về sự biến chuyển của trời đất, của đời người. Đó là một sự biến chuyển tự nhiên, liên tục, không gì có thể cưỡng lại được.
Lẽ chuyển vần này, Thiền Sư Vạn Hạnh ( …. _1018) cũng đời Lý, đã đề cập trong bài kệ “Thị Đệ Tử” (bảo đệ tử) như sau:
Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô,
Vạn mộc Xuân vinh, Thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy, vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch nghiã:
Thân người như bóng chớp, có rồi không,
Cây cỏ tốt tươi vào mùa Xuân, lại khô héo vào mùa Thu.
Mặc kệ lẽ thịnh suy, không sợ hãi,
Thịnh suy như hạt sương đọng trên ngọn cỏ.
Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Thượng trong tác phẩm Tư Tưởng Phật Giáo trong Văn Học thời Lý (Hiện Đại ấn hành, tháng 7 năm 1996 tại Canada) đã đối chiếu các quan niệm về sự biến chuyển của Vũ Trụ, Vạn hữu của hai vị Thiền Sư Vạn Hạnh và Mãn Giác với các triết gia và các nhà thơ cận đại như sau:
“ Từ thuở xa xưa, các triết gia Âu Á đã cùng chung cảm nghĩ rằng mọi việc ở trên cõi đời này đều luôn luôn biến đổi không ngừng.
Theo sách Luận Ngữ, có một hôm Khổng Tử đứng bên bờ sông mà than rằng:
Thệ gỉả như tư phù, bất xả trú dạ.
Dịch:
Trôi chảy mãi như thế này ư, ngày đêm không ngừng.
Trong triết học Tây Phương Héraclite cũng đã chủ trương mọi vật đều di chuyển như một dòng nước, qua một câu nói thời danh:
You can’t step twice into the same river, for fresh waters are ever flowing in upon you. The sun is new every day.(Bertrand Russel, History of Western Philosophy, London George Allen& Upwin- 1979, trang 63).
Bạn không thể nào bước vào hai lần trong cùng một dòng sông, vì nước mát luôn luôn trôi chảy qua người bạn. Mỗi ngày mặt trời đều đổi mới.
Trong khi đó, các nhà thơ có nhiều cảm xúc hơn trước cảnh đổi dời, thay ngôi đổi chủ, “thương hải tang điền” (bãi biển ruộng dâu), thăng trầm, vinh nhục, lên voi xuống chó, đã làm đại thi hào Nguyễn Du đau đớn lòng:
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điêu trông thấy mà đau đớn lòng.
(Truyện Kiều)
Trước cảnh vật đổi sao dời, nhà thơ Trần Tế Xương vẫn còn ấn tượng của thời quá khứ. Ông tìm về kỷ niệm xưa, nhữnh hình bóng cũ, những âm hưởng sâu đậm vẫn còn trong tiềm thức.
Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
(Sông lấp Nam Định)
Gần đây hơn, lãng mạn hơn, nhà thơ lớn Xuân Diệu đã diễn tả tâm tư của thế hệ trẻ thời tiền chiến luyến tiếc những giây phút trôi qua quá nhanh.
Ôi ngắn ngủi là những giờ họp mặt,
Ôi vội vàng là những phút trao yêu,
Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều.
(Xuân Diệu)
So sánh thái độ của các nhà thơ vừa trích dẫn ở trên, chúng ta nhận thấy thái độ của các Thiền Sư thời Lý quả thật là an nhiên tự tại trước cảnh vô thường, trước các biến đổi của thế sự và hoàn cảnh thiên nhiên. Các Thiền Sư đã hoà đồng với thiên nhiên, với sự sinh hóa của Vũ Trụ, và các Vị Sư ấy đã tìm thấy được cái định luật thường nhiên là cái vô thường của Vũ Trụ, Vạn hữu”.
Cái thái độ được Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Thượng đề cập trong đoạn văn trên chính là cái thái độ “vô bố úy” (không sợ hãi) của Thiền Sư Vạn Hạnh.
Nhậm vận thịnh suy, vô bố úy.
Đó cũng là niềm tin tưởng mãnh liệt của Thiền Sư Mãn Giác vào cái lẽ trường tồn bất biến, cái chân như, vượt lên trên mọi biến đổi của Vũ Trụ, của việc đời. Niềm tin tưởng ấy, Thiền Sư Mãn Giác đã thể hiện qua hình ảnh của một cành mai.
Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận,
Đình tiền, tạc dạ, nhất chi mai.
Hình ảnh tươi tắn đẹp đẽ biết bao!
Riêng đối với chúng ta, bên cạnh cái triết lý siêu hình về chân như,về bản thể, về nguyên lý tuyệt đối ……,chúng tôi nghĩ rằng, nếu về mặt vật chất, các nhà khoa học biết dựa vào những định luật thiên nhiên mà chế ngự thiên nhiên, thì về mặt tâm linh, với niềm tin ở những giá trị tinh thần cao quý, chắc chắn những biến động trong đời sống xã hội sẽ không bao giờ làm cho chúng ta nao núng.
Đâu đây có tiếng ai hát:
Xuân đi, Xuân đến, hãy còn Xuân.
(Gái Xuân- Trung Tâm Asia Đêm Giao Thừa)
San Jose, ngày mồng 3 Tết năm Canh Dần * GS. Lưu Khôn
(16/02/2010)
>> Xem Tiếp!
THM xin được chân thành cảm tạ Giáo Sư Lưu Khôn.
***
Thiệp Chúc Tết của Hội Ái Hữu Phan Thanh Giản –Đoàn Thị Điểm Bắc California năm nay (2010) có ghi câu đối:
Xuân đến, Xuân đi, Xuân bất tận.
Vật dời, vật đổi, vật không cùng.
Dịch từ chữ Hán:
Xuân khứ, Xuân lai, Xuân bất tận .
Vật đi, vật hoán, vật vô cùng.
Câu đối này khiến chúng ta liên tưởng đến một bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác (1051-1096) đời Lý, bài “Cáo tật thị chúng” (Có bệnh bảo với mọi người):
Xuân khứ, bách hoa lạc,
Xuân đáo, bách hoa khai,
Sự trạc nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai,
Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận,
Đình tiền, tạc dạ, nhất chi mai.
Dịch nghiã:
Xuân đi, trăm hoa rụng,
Xuân đến, trăm hoa nở.
Việc đời lần lượt trôi qua trước mắt,
Cái già xuất hiện từ trên mái đầu.
Chớ bảo Xuân tàn, hoa rụng hết.
Đêm qua, một cành mai nở trước sân.
Bài kệ đã đưa ra những hình ảnh cụ thể về sự biến chuyển của trời đất, của đời người. Đó là một sự biến chuyển tự nhiên, liên tục, không gì có thể cưỡng lại được.
Lẽ chuyển vần này, Thiền Sư Vạn Hạnh ( …. _1018) cũng đời Lý, đã đề cập trong bài kệ “Thị Đệ Tử” (bảo đệ tử) như sau:
Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô,
Vạn mộc Xuân vinh, Thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy, vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch nghiã:
Thân người như bóng chớp, có rồi không,
Cây cỏ tốt tươi vào mùa Xuân, lại khô héo vào mùa Thu.
Mặc kệ lẽ thịnh suy, không sợ hãi,
Thịnh suy như hạt sương đọng trên ngọn cỏ.
Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Thượng trong tác phẩm Tư Tưởng Phật Giáo trong Văn Học thời Lý (Hiện Đại ấn hành, tháng 7 năm 1996 tại Canada) đã đối chiếu các quan niệm về sự biến chuyển của Vũ Trụ, Vạn hữu của hai vị Thiền Sư Vạn Hạnh và Mãn Giác với các triết gia và các nhà thơ cận đại như sau:
“ Từ thuở xa xưa, các triết gia Âu Á đã cùng chung cảm nghĩ rằng mọi việc ở trên cõi đời này đều luôn luôn biến đổi không ngừng.
Theo sách Luận Ngữ, có một hôm Khổng Tử đứng bên bờ sông mà than rằng:
Thệ gỉả như tư phù, bất xả trú dạ.
Dịch:
Trôi chảy mãi như thế này ư, ngày đêm không ngừng.
Trong triết học Tây Phương Héraclite cũng đã chủ trương mọi vật đều di chuyển như một dòng nước, qua một câu nói thời danh:
You can’t step twice into the same river, for fresh waters are ever flowing in upon you. The sun is new every day.(Bertrand Russel, History of Western Philosophy, London George Allen& Upwin- 1979, trang 63).
Bạn không thể nào bước vào hai lần trong cùng một dòng sông, vì nước mát luôn luôn trôi chảy qua người bạn. Mỗi ngày mặt trời đều đổi mới.
Trong khi đó, các nhà thơ có nhiều cảm xúc hơn trước cảnh đổi dời, thay ngôi đổi chủ, “thương hải tang điền” (bãi biển ruộng dâu), thăng trầm, vinh nhục, lên voi xuống chó, đã làm đại thi hào Nguyễn Du đau đớn lòng:
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điêu trông thấy mà đau đớn lòng.
(Truyện Kiều)
Trước cảnh vật đổi sao dời, nhà thơ Trần Tế Xương vẫn còn ấn tượng của thời quá khứ. Ông tìm về kỷ niệm xưa, nhữnh hình bóng cũ, những âm hưởng sâu đậm vẫn còn trong tiềm thức.
Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
(Sông lấp Nam Định)
Gần đây hơn, lãng mạn hơn, nhà thơ lớn Xuân Diệu đã diễn tả tâm tư của thế hệ trẻ thời tiền chiến luyến tiếc những giây phút trôi qua quá nhanh.
Ôi ngắn ngủi là những giờ họp mặt,
Ôi vội vàng là những phút trao yêu,
Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều.
(Xuân Diệu)
So sánh thái độ của các nhà thơ vừa trích dẫn ở trên, chúng ta nhận thấy thái độ của các Thiền Sư thời Lý quả thật là an nhiên tự tại trước cảnh vô thường, trước các biến đổi của thế sự và hoàn cảnh thiên nhiên. Các Thiền Sư đã hoà đồng với thiên nhiên, với sự sinh hóa của Vũ Trụ, và các Vị Sư ấy đã tìm thấy được cái định luật thường nhiên là cái vô thường của Vũ Trụ, Vạn hữu”.
Cái thái độ được Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Thượng đề cập trong đoạn văn trên chính là cái thái độ “vô bố úy” (không sợ hãi) của Thiền Sư Vạn Hạnh.
Nhậm vận thịnh suy, vô bố úy.
Đó cũng là niềm tin tưởng mãnh liệt của Thiền Sư Mãn Giác vào cái lẽ trường tồn bất biến, cái chân như, vượt lên trên mọi biến đổi của Vũ Trụ, của việc đời. Niềm tin tưởng ấy, Thiền Sư Mãn Giác đã thể hiện qua hình ảnh của một cành mai.
Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận,
Đình tiền, tạc dạ, nhất chi mai.
Hình ảnh tươi tắn đẹp đẽ biết bao!
Riêng đối với chúng ta, bên cạnh cái triết lý siêu hình về chân như,về bản thể, về nguyên lý tuyệt đối ……,chúng tôi nghĩ rằng, nếu về mặt vật chất, các nhà khoa học biết dựa vào những định luật thiên nhiên mà chế ngự thiên nhiên, thì về mặt tâm linh, với niềm tin ở những giá trị tinh thần cao quý, chắc chắn những biến động trong đời sống xã hội sẽ không bao giờ làm cho chúng ta nao núng.
Đâu đây có tiếng ai hát:
Xuân đi, Xuân đến, hãy còn Xuân.
(Gái Xuân- Trung Tâm Asia Đêm Giao Thừa)
San Jose, ngày mồng 3 Tết năm Canh Dần * GS. Lưu Khôn
(16/02/2010)
>> Xem Tiếp!
KẺ THẮNG NGƯỜI BẠI
(Bản Việt-ngữ tự dịch từ bài WINNER AND LOSER đăng trong Đặc-San Anh-Ngữ THE VIETS của Hội Văn-Hóa Việt tại San José City College số Mùa Xuân năm 1996)
ĐỖ DOÃN QUẾ
Ở đời, trong bất cứ cuộc tranh-chấp nào nếu chung cuộc không hòa thì thế nào
cũng có kẻ thắng người bại.
Kẻ thắng, theo định-nghĩa, là người, là bên , đã vượt trội đối-phương và chiếm đoạt được bất cứ cái gì là đối-tượng của cuộc tranh-chấp. Đối-tượng ấy có thể là một ngôi nhà, một món tiền, một cái xe, hay ngay cả quyền-bính của một quốc-gia hoặc bất cứ vật gì có thể quan-niệm được
Thường thường thì bên thắng không những chiếm hưởng được đối-tượng của cuộc tranh chấp mà còn được thiên-hạ ngưỡng-mộ và thán-phục vì được coi là người
can-đảm, tài-ba, khôn-khéo, và đặc-biệt là đức-độ và có chính-nghĩa trong khi bên bại thì bị coi thường xem khinh như đồ hèn-nhát, ngu-đần, vụng-dại và cuối-cùng nhưng tệ hơn cả là xấu-xa, tà-ngụy.
Khổ thay, cái lối suy-xét thông-thường, phổ-biến này lại không phải lúc nào cũng đúng. Thực vậy, trong đời sống hàng ngày chúng ta có thể thấy cơ man là những
trường hợp trong đó kẻ thắng không phải là người có chính-nghĩa. Đúng thế, ngoài cái việc bọn này khỏe hơn (được trang-bị đầy đủ hơn, có nhiều tiền bạc hơn v.v...) chúng còn có thể đã dùng những phương-cách đê-hèn đáng khinh bỉ để thắng đối phương. Các thí-dụ về chuyện này thì không hề hiếm thiếu, chúng ta hãy xem thử vài trường-hợp.
Một ngày nọ, vào buổi sáng, có hai tên côn-đồ trang-bị súng tiểu-liên UZI tối-tân đột-nhập một lớp mẫu-giáo trong một khu phố khang-trang. Bọn lưu-manh bắt tất
cả các em học-sinh làm con tin và đòi được nạp một số tiền là 1 triệu Mỹ-kim và một chiếc trực-thăng. Sau 2 ngày thương-lượng giòng-giã Cảnh-Sát đành phải chịu nhận điều-kiện của lũ cướp để cứu sinh-mạng các em bé. Thế là lũ côn-đồ được ngang-nhiên rời khỏi ngôi trường nhỏ với món tiền kếch-sù và 2 em bé bị chúng bắt đem theo để làm khiên che đạn cho chúng, ngay trước mắt
- 3 -
Cảnh-Sát. Chiếc máy bay rỗng và 2 em học-sinh được tìm thấy vài ngày sau trong một vùng núi non hiểm trở hoang-vu. Ai đã là kẻ thắng trong vụ này, và họ có phải là những vị anh-hùng hay không?
Trong một chuyện khác có hai anh em nhà nọ tranh giành nhau di-sản của cha mẹ, đó là một ngôi nhà do tổ-tiên xây cất lên từ đã lâu đời lắm rồi. Không những ngôi nhà này có những đồ trang-trí vô giá gắn bên trong do các vị tổ-tiên vốn là những nghệ-sĩ tài danh sáng-tác ra, mà nó còn là ngôi từ-đường nơi đặt bàn thờ, bài-vị tổ-tiên. Trong hai anh em thì một là người đức-độ, lương-hảo, đã cố gắng hết sức mình để coi sóc di-sản tiền nhân và chăm nom họ hàng quyến thuộc. Chiếu theo luật pháp quốc-gia, phong-tục địa-phương và di-chúc của cha mẹ thì người này được thừa hưởng di-sản vì không những anh ta là trưởng-nam mà lại còn là người hiếu hạnh nhất trong đám anh em. Ngược lại, người con kia thì là một tên vô-lại, một mối ô-nhục của gia-đình. Bởi vì y kết bè, kết đảng với lũ lưu manh và làm nhiều điều phi-
- 4 -
pháp nên y bị cha mẹ truất quyền thừa-hưởng di-sản. Cái động cơ duy nhất khiến cho y nhất quyết chiếm cho bằng
được ngôi từ-đường chỉ là cái giá-trị bằng tiền bạc của nó, và nếu y thắng được trong cuộc tranh chấp này thì y đã có sẵn một kế-hoạch bán phăng nó đi để lấy tiền tiêu sài
thỏa-thích . Sau bao nbiêu phen thất bại ê-chề cả về lý lẫn về lực tên lưu-manh giơ ngón đòn tận-mạng cuối cùng: y dọa rằng y sẽ đốt tiêu ngôi nhà nếu y không chiếm được nó. Và thủ-đoạn đê-tiện đáng khinh-bỉ này quả-nhiên đã có hiệu-lực bởi vì, không thể nào chấp nhận việc ngôi từ-đường thân yêu bị phá-hủy, người anh lương hảo đành gạt lệ rút lui, nhường ngôi nhà lại cho thằng em bất-lương. Trong xâu thẳm của đáy lòng mình người anh hiếu-hạnh thừa biết rằng thằng em côn-đồ của mình sẽ không ngần ngại gì mà không thực-hiện lời đe dọa của nó,
còn về phần mình thì anh ta không thể nào chịu nổi cái cảnh tượng nhìn thấy cơ-nghiệp của tổ-tiên bốc thành mây khói.
Anh ta ý-thức được rằng thôi thì cách tốt hơn cả là anh ta đành buông khí-giới chịu thua để cứu-vãn lấy ngôi từ-đường yêu-dấu . Người anh đức-hạnh có thể chấp-
- 5 -
nhận bất cứ sự đau khổ nào của cuộc tranh-chấp để bảo-vệ di-sản của tổ-tiên, nhưng nếu cuộc chiến chỉ đưa đến sự tàn-phá của di-sản này thì anh ta đành phải chấp nhận một sự hy-sinh còn to lớn hơn gấp bao nhiêu lần thế: đó là sự hy-sinh danh-dự. sự hy-sinh ưu-thế của mình, anh ta đành chịu đầu hàng. Trong trường hợp này ai là người thắng ?
Và y có xứng đáng để thắng không?
Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy nhưng tôi được nghe nói có một tác-phẩm nghệ-thuật rất nổi tiếng tên là “Kẻ Chiến Thắng” do một nghệ-sĩ tài danh mà tôi không biết hay đúng hơn đã quên mất tên sáng-tác ra. Bức tượng này nổi tiếng khắp hoàn vũ không phải vì cái vẻ đẹp của nó mà là vì cái tính cách độc-đáo của nó. Thật vậy, ai
cũng tưởng rằng bức tượng tạc một chiến-sĩ tươi cười bên những cành hoa khải-hoàn .
Nhưng thưa không, trái lại, đó là tượng một người bị dầy vò bởi hối-hận vì đã dùng những thủ-đoạn đáng khinh bỉ để chiến-thắng thành ra thay vì kiêu-hãnh với chiến-
tích của mình thì y lại xấu-hổ vì nó. Thật không có gì phải
- 6 -
lạ khi mà tác-phẩm nghệ-thuật này được vang lừng danh tiếng khắp hoàn-cầu kể từ khi nó ra đời cách đây mấy
trăm năm.
Nhưng ngày nay chúng ta có thể thấy nhiều người đã dùng những thủ-đoạn đê-tiện để thắng nhưng vẫn không xấu-hổ về hành-vi của mình. Thay vì ngậm miệng lặng thinh thì lũ người này lại khua chiêng gõ mõ huênh-hoang khoe khoang thành tích của họ, thí-dụ như cứ mỗi ngày 30 tháng Tư thì lũ Việt Cộng lại vẫn rùm beng tổ-chức lễ mừng “chiến-thắng” của chúng, một thứ chiến thắng mà chúng không tài nào đạt đuoc nếu chúng không ngang nhiên vi-phạm Hiệp-Định Đình-Chiến Paris, một
Hiệp-định mà chúng đã long-trọng ý-kết cùng với Viêt-Nam Cộng-Hòa và nhiều quốc-gia khác.
Nhưng xin đừng lấy làm lạ! Bọn cộng-sản có một lối kiêu-hãnh riêng của chúng, đó la sự kiêu-hãnh là sát-nhân, lừa bịp và phản-quốc.
LS DO DOAN QUE
>> Xem Tiếp!
ĐỖ DOÃN QUẾ
Ở đời, trong bất cứ cuộc tranh-chấp nào nếu chung cuộc không hòa thì thế nào
cũng có kẻ thắng người bại.
Kẻ thắng, theo định-nghĩa, là người, là bên , đã vượt trội đối-phương và chiếm đoạt được bất cứ cái gì là đối-tượng của cuộc tranh-chấp. Đối-tượng ấy có thể là một ngôi nhà, một món tiền, một cái xe, hay ngay cả quyền-bính của một quốc-gia hoặc bất cứ vật gì có thể quan-niệm được
Thường thường thì bên thắng không những chiếm hưởng được đối-tượng của cuộc tranh chấp mà còn được thiên-hạ ngưỡng-mộ và thán-phục vì được coi là người
can-đảm, tài-ba, khôn-khéo, và đặc-biệt là đức-độ và có chính-nghĩa trong khi bên bại thì bị coi thường xem khinh như đồ hèn-nhát, ngu-đần, vụng-dại và cuối-cùng nhưng tệ hơn cả là xấu-xa, tà-ngụy.
Khổ thay, cái lối suy-xét thông-thường, phổ-biến này lại không phải lúc nào cũng đúng. Thực vậy, trong đời sống hàng ngày chúng ta có thể thấy cơ man là những
trường hợp trong đó kẻ thắng không phải là người có chính-nghĩa. Đúng thế, ngoài cái việc bọn này khỏe hơn (được trang-bị đầy đủ hơn, có nhiều tiền bạc hơn v.v...) chúng còn có thể đã dùng những phương-cách đê-hèn đáng khinh bỉ để thắng đối phương. Các thí-dụ về chuyện này thì không hề hiếm thiếu, chúng ta hãy xem thử vài trường-hợp.
Một ngày nọ, vào buổi sáng, có hai tên côn-đồ trang-bị súng tiểu-liên UZI tối-tân đột-nhập một lớp mẫu-giáo trong một khu phố khang-trang. Bọn lưu-manh bắt tất
cả các em học-sinh làm con tin và đòi được nạp một số tiền là 1 triệu Mỹ-kim và một chiếc trực-thăng. Sau 2 ngày thương-lượng giòng-giã Cảnh-Sát đành phải chịu nhận điều-kiện của lũ cướp để cứu sinh-mạng các em bé. Thế là lũ côn-đồ được ngang-nhiên rời khỏi ngôi trường nhỏ với món tiền kếch-sù và 2 em bé bị chúng bắt đem theo để làm khiên che đạn cho chúng, ngay trước mắt
- 3 -
Cảnh-Sát. Chiếc máy bay rỗng và 2 em học-sinh được tìm thấy vài ngày sau trong một vùng núi non hiểm trở hoang-vu. Ai đã là kẻ thắng trong vụ này, và họ có phải là những vị anh-hùng hay không?
Trong một chuyện khác có hai anh em nhà nọ tranh giành nhau di-sản của cha mẹ, đó là một ngôi nhà do tổ-tiên xây cất lên từ đã lâu đời lắm rồi. Không những ngôi nhà này có những đồ trang-trí vô giá gắn bên trong do các vị tổ-tiên vốn là những nghệ-sĩ tài danh sáng-tác ra, mà nó còn là ngôi từ-đường nơi đặt bàn thờ, bài-vị tổ-tiên. Trong hai anh em thì một là người đức-độ, lương-hảo, đã cố gắng hết sức mình để coi sóc di-sản tiền nhân và chăm nom họ hàng quyến thuộc. Chiếu theo luật pháp quốc-gia, phong-tục địa-phương và di-chúc của cha mẹ thì người này được thừa hưởng di-sản vì không những anh ta là trưởng-nam mà lại còn là người hiếu hạnh nhất trong đám anh em. Ngược lại, người con kia thì là một tên vô-lại, một mối ô-nhục của gia-đình. Bởi vì y kết bè, kết đảng với lũ lưu manh và làm nhiều điều phi-
- 4 -
pháp nên y bị cha mẹ truất quyền thừa-hưởng di-sản. Cái động cơ duy nhất khiến cho y nhất quyết chiếm cho bằng
được ngôi từ-đường chỉ là cái giá-trị bằng tiền bạc của nó, và nếu y thắng được trong cuộc tranh chấp này thì y đã có sẵn một kế-hoạch bán phăng nó đi để lấy tiền tiêu sài
thỏa-thích . Sau bao nbiêu phen thất bại ê-chề cả về lý lẫn về lực tên lưu-manh giơ ngón đòn tận-mạng cuối cùng: y dọa rằng y sẽ đốt tiêu ngôi nhà nếu y không chiếm được nó. Và thủ-đoạn đê-tiện đáng khinh-bỉ này quả-nhiên đã có hiệu-lực bởi vì, không thể nào chấp nhận việc ngôi từ-đường thân yêu bị phá-hủy, người anh lương hảo đành gạt lệ rút lui, nhường ngôi nhà lại cho thằng em bất-lương. Trong xâu thẳm của đáy lòng mình người anh hiếu-hạnh thừa biết rằng thằng em côn-đồ của mình sẽ không ngần ngại gì mà không thực-hiện lời đe dọa của nó,
còn về phần mình thì anh ta không thể nào chịu nổi cái cảnh tượng nhìn thấy cơ-nghiệp của tổ-tiên bốc thành mây khói.
Anh ta ý-thức được rằng thôi thì cách tốt hơn cả là anh ta đành buông khí-giới chịu thua để cứu-vãn lấy ngôi từ-đường yêu-dấu . Người anh đức-hạnh có thể chấp-
- 5 -
nhận bất cứ sự đau khổ nào của cuộc tranh-chấp để bảo-vệ di-sản của tổ-tiên, nhưng nếu cuộc chiến chỉ đưa đến sự tàn-phá của di-sản này thì anh ta đành phải chấp nhận một sự hy-sinh còn to lớn hơn gấp bao nhiêu lần thế: đó là sự hy-sinh danh-dự. sự hy-sinh ưu-thế của mình, anh ta đành chịu đầu hàng. Trong trường hợp này ai là người thắng ?
Và y có xứng đáng để thắng không?
Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy nhưng tôi được nghe nói có một tác-phẩm nghệ-thuật rất nổi tiếng tên là “Kẻ Chiến Thắng” do một nghệ-sĩ tài danh mà tôi không biết hay đúng hơn đã quên mất tên sáng-tác ra. Bức tượng này nổi tiếng khắp hoàn vũ không phải vì cái vẻ đẹp của nó mà là vì cái tính cách độc-đáo của nó. Thật vậy, ai
cũng tưởng rằng bức tượng tạc một chiến-sĩ tươi cười bên những cành hoa khải-hoàn .
Nhưng thưa không, trái lại, đó là tượng một người bị dầy vò bởi hối-hận vì đã dùng những thủ-đoạn đáng khinh bỉ để chiến-thắng thành ra thay vì kiêu-hãnh với chiến-
tích của mình thì y lại xấu-hổ vì nó. Thật không có gì phải
- 6 -
lạ khi mà tác-phẩm nghệ-thuật này được vang lừng danh tiếng khắp hoàn-cầu kể từ khi nó ra đời cách đây mấy
trăm năm.
Nhưng ngày nay chúng ta có thể thấy nhiều người đã dùng những thủ-đoạn đê-tiện để thắng nhưng vẫn không xấu-hổ về hành-vi của mình. Thay vì ngậm miệng lặng thinh thì lũ người này lại khua chiêng gõ mõ huênh-hoang khoe khoang thành tích của họ, thí-dụ như cứ mỗi ngày 30 tháng Tư thì lũ Việt Cộng lại vẫn rùm beng tổ-chức lễ mừng “chiến-thắng” của chúng, một thứ chiến thắng mà chúng không tài nào đạt đuoc nếu chúng không ngang nhiên vi-phạm Hiệp-Định Đình-Chiến Paris, một
Hiệp-định mà chúng đã long-trọng ý-kết cùng với Viêt-Nam Cộng-Hòa và nhiều quốc-gia khác.
Nhưng xin đừng lấy làm lạ! Bọn cộng-sản có một lối kiêu-hãnh riêng của chúng, đó la sự kiêu-hãnh là sát-nhân, lừa bịp và phản-quốc.
LS DO DOAN QUE
>> Xem Tiếp!
Subscribe to:
Posts (Atom)